Tại sao Việt Nam lo về Trung Quốc nhất?

23 September, 2009 at 7:19 am | Posted in Bình luận: Ngô Nhân Dụng | Leave a comment

Ngô Nhân Dụng


http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=101408&z=7

Giới trí thức Việt Nam đang lo ngăn cản không cho các công ty Trung Quốc mang người vào khai thác bô xít (bausite) làm nguy hại môi trường sống, biến các cư xá của công nhân Trung Quốc thành những làng tự trị sống ngoài luật pháp nước Việt Nam. Người Việt Nam nào cũng đau lòng trước cảnh Hải Quân Trung Quốc bắt đồng bào ngư dân ngay trong hải phận nước Việt đưa về giam giữ ngay ở Hoàng Sa mà họ đã chiếm của nước Việt Nam từ năm 1974.

Từ hai ngàn năm nay, người Việt vẫn lo tự vệ trước sức mạnh bành trướng của người Hán. Ðến bây giờ mối lo đó càng lớn hơn vì Trung Quốc đang nỗ lực thay đổi để trở thành một cường quốc kinh tế đứng hạng nhì thế giới, mà trong một thế hệ nữa, đến giữa thế kỷ này một tỷ dân Trung Hoa sẽ vượt qua Hoa Kỳ để đứng hạng nhất về tổng sản lượng quốc gia. Trước viễn anh đó người Việt Nam phải lo lắng.

Nhưng nhìn chung quanh, chúng ta phải tự hỏi tại sao các nước khác trong vùng Á Ðông cũng lo nhưng không ai mang mối lo lớn như nước mình? Hàn Quốc và Ðài Loan nằm sát bên Trung Quốc, như những con mèo nằm bên cạnh con cọp. Những quốc gia nhỏ khác trong vùng như Phi Luật Tân, Mã Lai Á, Indonesia, nhỏ bé đến như Singapore, họ đều ý thức về vai trò đang lên của Trung Quốc và biết họ phải làm gì; nhưng không hoảng hốt trước sự bành trướng của cường quốc mới này. Tại sao vậy?

Hãy nhìn vào hai nước Á Ðông láng giềng của Trung Quốc, gần không khác gì Việt Nam. Hàn Quốc đến giờ vẫn còn bị chia đôi. Nước họ đã từng bị đế quốc Trung Hoa đặt làm An Ðông Ðô Hộ Phủ vào thời gian mà nhà Ðường gọi nước ta là An Nam, bây giờ trong nước họ không ai báo động nhau về sự bành trướng của Hán tộc! Tại sao Ðài Loan, hòn đảo vẫn bị coi là một tỉnh của Trung Quốc, họ không lo bị Trung Quốc lấn áp hay xâm chiếm mà còn mở rộng giao thương, trao đổi văn hóa, và mua thêm vũ khí của Mỹ để củng cố sức mạnh quân sự? Nước Việt Nam khác hai nước trên ở những điểm nào mà dân họ bình tĩnh, tự tin, còn dân mình thì lo sợ đến thế? Trả lời được câu hỏi này là biết được người Việt Nam phải làm gì để đứng vững trước mối đe dọa về sự bành trướng của Trung Quốc trong thế kỷ 21.

Lý do thứ nhất là kinh tế. Ðài Loan và Nam Hàn đang là những cường quốc kinh tế trong khu vực Á Ðông. Sản lượng bình quân ở Nam Hàn trên 24,000 đô la một đầu người, Ðài Loan trên 30,000 đô la, còn Trung Quốc chỉ có hơn 5,000 (Việt Nam bằng một nửa Trung Quốc, và đây là lối tính PPP, dựa theo mãi lực tương đối của người dân chứ không theo lối chỉ tính bằng đô la Mỹ). Dù tới khi tổng sản lượng nội địa của Trung Quốc tăng gấp ba lớn bằng GDP của Mỹ thì một người dân trung bình ở nước Ðại Hán vẫn còn nghèo, chưa bằng một phần ba người dân hai nước nhỏ láng giềng. Dân giầu thì nước mạnh, nhất là trong thời “thế giới hậu cộng sản” và kinh tế toàn cầu hóa bây giờ.

Sau khi chiến tranh lạnh đã chấm dứt, những quốc gia nhỏ không phải mang mối lo bị một cường quốc nào xâm chiếm nữa. Mỹ không có tham vọng chiếm đóng Iraq lâu dài cũng như Nga không dám đem quân vào các nước Georgia và Ukraine trước kia từng thuộc lãnh thổ Liên Xô. Trung Quốc dù có tăng sức mạnh quân sự gấp trăm lần cũng vẫn chưa đuổi kịp Mỹ; mà từ năm 1950 họ vẫn chưa dám đem quân sang đánh các hòn đảo Kim Môn và Mã Tổ thì bây giờ họ càng phải dè dặt hơn.

Tuy Việt Nam và Trung Quốc vẫn còn do những đảng tự gọi là cộng sản cai trị, nhưng chúng ta đang sống trong một “thế giới hậu cộng sản” vì chủ nghĩa Cộng Sản đã bị vứt bỏ từ hai chục năm nay rồi. Ngày nay vẫn còn những hội nghị về chủ nghĩa Mác xít trong đó người ta bàn về những lời Karl Marx phê bình xã hội tư bản chứ không phải để tìm đường thực hiện những viễn tượng mà ông vẽ ra để thay đổi các xã hội đó. Kinh tế tư bản, mang tên gọi khác là kinh tế thị trường, đang trở thành lối làm ăn duy nhất để tiến tới dân giầu, nước mạnh.

Nhưng trong “thế giới hậu cộng sản” này nền kinh tế của tất cả các nước đều liên hệ đến nhau. Tất cả các cường quốc đều muốn duy trì một tình trạng ổn định. Ðể yên tâm làm ăn. Mục tiêu của các quốc gia là nâng cao mức sống của người dân chứ không phải là thực hiện một chủ nghĩa hay một lý thuyết nào. Không hề có một “chủ nghĩa tư bản” như người cộng sản thường hô hoán. Kinh tế tư bản là một cách tổ chức xã hội cạnh tranh để sinh tồn theo luật tự nhiên; mà cơ cấu tổ chức tư bản đó sẵn sàng biến hóa theo nhu cầu từng giai đoạn, cũng là một luật tiến hóa tự nhiên. Sức mạnh của một quốc gia nằm trong lãnh vực kinh tế: Mạnh vì gạo, bạo vì tiền.

Nhưng các quốc gia, đặc biệt là các cường quốc về quân sự cũng như kinh tế, không ai muốn thế quân bình hiện có bị xáo trộn. Không một cường quốc nào sẵn lòng đi giúp một nước này chống nước khác nếu không phải vì muốn bảo vệ thế quân bình tương đối ổn định đó. Ý nghĩ kết thân với một nước này để chống lại nước khác hoàn toàn dựa trên địa lý chính trị là một ảo tưởng. Trái đất đã “bằng phẳng” hơn, núi, sông, biển cả không còn quyết định các mối tương quan quốc tế. Chiến tranh lạnh đã chấm dứt, mỗi cường quốc kinh tế chỉ lo bảo vệ quyền lợi của họ và họ biết các quốc gia khác cũng như vậy. Các quốc gia liên kết với nhau qua những hiệp ước thương mại chứ không phải qua những liên minh quân sự như 50 năm trước nữa. Ý tưởng liên kết với một nước khác qua một chủ nghĩa, vì cùng một chế độ, một mô hình tổ chức xã hội, là một ý tưởng lạc hậu và nguy hiểm cho chính bản thân nước mình.

Các nước như Ðài Loan, Nam Hàn không lo lắng trước sự bành trướng quân sự và kinh tế của Trung Quốc vì họ đã đi trước lục địa Trung Hoa trên con đường tư bản hóa, dân họ giầu hơn nhờ thế nước họ vững chắc.

Nhưng một sức mạnh không thể chối cãi được là ở các nước trên dân chúng và chính quyền đều đồng ý phải làm sao cho dân giầu, nước mạnh thì mới đứng vững được trong cuộc chạy đua với một tỷ người Trung Hoa. Và họ biết phải làm gì để dân giầu, nước mạnh. Dân chúng nước họ có “đồng thuận” với nhau không? Có thể trả lời ngay là không! Chính sách tăng cường giao thương với Trung Quốc của chính phủ Quốc Dân Ðảng ở Ðài Loan đang bị đảng đối lập và báo chí tự do chỉ trích, nêu rất nhiều lý do khác nhau. Tại Nam Hàn mỗi lần thay đổi tổng thống là lại xác định một chính sách mới đối với Bình Nhưỡng cũng như Bắc Kinh. Ðồng thuận là một từ ngữ đầy ảo tưởng và nguy hiểm. Các chế độ độc tài dùng khẩu hiệu này để ép buộc dân phải vâng lời chính quyền. Trong một xã hội tự do dân chủ người ta không cần “đồng thuận.” Mọi người luôn luôn bất đồng ý kiến, nhiều ý kiến khác nhau thì người dân càng có dịp so sánh và lựa chọn. Những cuộc tranh luận đó trông có vẻ lộn xộn, không “nhất trí” nhưng lại giúp quốc gia tránh được những nhầm lẫn lớn, khó sửa. Chỉ cần mọi người cùng theo những luật chơi minh bạch, công khai để quyết định những chính sách chung. Chính nhờ những luật chơi dân chủ mà một khi chính sách quốc gia đã được đa số đồng ý và dùng lá phiếu để lựa chọn rồi, cả nước trên dưới một lòng. Mặc dù lúc nào cũng vẫn có người không vẫn đồng ý và tiếp tục tìm cách chinh phục đa số theo ý kiến của mình.

Chính chế độ tự do dân chủ đã gây nên sức mạnh của Hàn Quốc và Ðài Loan. Các đảng chính trị ở hai nước đó vẫn “đấu đá” nhau thẳng tay để giành quyền lãnh đạo, nhưng các quyền tự do căn bản của người dân được tôn trọng và người dân nắm quyền lựa chọn tối hậu. Trong nước họ cũng có những người lợi dụng quyền thế làm tiền; cũng có những nhà kinh doanh tìm cách hối lộ cho được việc; nhưng nhờ báo chí tự do và bầu cử tự do cho nên trong xã hội có cả một mạng lưới ngăn ngừa tham nhũng tự nhiên. Ðiều đáng nể nhất là xã hội công dân ở các nước trên đã phát triển rất mạnh nhờ các công dân đều được tự do lập hội. Mỗi nhóm công dân có những nhu cầu và quyền lợi riêng được tự do hoạt động và phát triển mà không bị guồng máy nhà nước ngăn cản. Vừa rồi Ðức Ðạt Lai Lạt Ma đến thăm Ðài Loan do lời mời của các Phật tử để cầu nguyện cho các nạn nhân bị bão, Bắc Kinh đã kịch liệt đả kích cuộc thăm viếng này. Chính phủ Quốc Dân Ðảng ở Ðài Loan cũng chống vì không muốn làm mất lòng chính quyền cộng sản lục địa, nhưng vẫn phải chịu thua dân. Chỉ trong một nước tự do người ta mới thể hiện được đủ các quyền công dân như vậy.

Ðối với nước Việt Nam ta, điều đáng lo lắng nhất không phải là Trung Quốc tiến lên địa vị mạnh hơn; mà là lo nhất là nước Việt Nam đã chậm tiến lại càng ngày càng bị bỏ lại phía sau. Trong khi các nước khác trong vùng Á Ðông tiếp tục trên con đường tiến bộ về chính trị và kinh tế như vậy, thì chính quyền cộng sản ở Việt Nam còn đang đẩy lùi cả nước đi ngược dòng tiến hóa. Họ đang lo bắt bớ những bloggers, cấm đoán dân phát biểu ý kiến khác với đảng; cấm người dân Công Giáo ở Thái Hà, ở Tam Tòa không được sử dụng những miếng đất vốn thuộc nhà thờ của họ; cấm các thiền sinh ở Bát Nhã, Lâm Ðồng không được tu tập theo phương pháp của họ, cũng như cấm giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất không được sinh hoạt tự do trở lại. Khi các chuyên gia và giới trí thức cũng phải tự giải tán một tổ chức chỉ nhằm mục đích nghiên cứu phát triển và bảo vệ môi trường thì các công dân khác làm sao góp phần xây dựng quốc gia?

Với một chính quyền lạc hậu như thế, dân tộc ta không lo lắng sao được? Cứ để cho một nhóm tham nhũng và bãt lực tiếp tục cầm đầu, nắm cổ mọi người mãi hay sao?

Leave a Comment »

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Leave a Reply

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Create a free website or blog at WordPress.com.
Entries and comments feeds.

%d bloggers like this: