Một dự án khai thác quặng mỏ thử thách giới cầm quyền ở Việt Nam

23 March, 2009 at 7:24 pm | Posted in Uncategorized | Leave a comment

Trung Quốc tìm cách khai thác các mỏ bô xít ở các vùng nhạy cảm về môi sinh và xã hội

Anh Le Tran, Asia Sentinel 23/3/09, Phan Lưu Quỳnh lược dịch

http://tiengnoitudodanchu.org/modules.php?name=News&file=article&sid=7239

Các nhà bảo vệ môi sinh và khoa học xã hội ở Việt Nam ngày càng gia tăng sự lo âu về những mối liên can giữa môi sinh, xã hội, kinh tế và chính trị đằng sau một kế hoạch của chính phủ nhằm cho phép các công ty Trung Quốc đang thèm khát khoáng sản được phát triển một dự án khai thác quặng bô xít to lớn ở Cao nguyên Trung phần.

Việt Nam được ước lượng là có đến 8 tỷ tấn quặng bô xít, dùng để sản xuất alumina, một loại bột trắng được nung chảy để chế biến ra nhôm. Hai dự án lớn để khai thác bô xít và và sản xuất alumina đã được triển khai ở Lâm Ðồng và Ðắc Nông. Nhà nước Việt Nam đã ước tính là họ sẽ cần đến 20 tỷ Mỹ kim đầu tư cho đến năm 2025 để xử dụng vào việc khai thác nguồn tài nguyên này. Trung Quốc liền nhảy vào.

Cái ý tưởng khai thác nguồn tài nguyên bô xít phong phú không có gì là mới mẻ. Cách đây không lâu lắm vào khoảng thập niên 1980s, khi đất nước vẫn còn là thành viên của Hội đồng Tương trợ kinh tế (CMEA), một khối hợp tác và phát triển kinh tế do Liên Xô và các quốc gia cộng sản Ðông Âu thành lập, thì Việt Nam đã đệ trình lên Hội đồng một chương trình khai thác bô xít. Nhưng sau khi các nhà phân tích Liên Xô nghiên cứu về tính khả thi của chương trình này, thì Hội đồng Tương trợ kinh tế đã bác bỏ ý tưởng khai thác bô xít đó, phần lớn là do các mối quan ngại nghiêm trọng về môi sinh.

Những mối quan ngại đó vẫn chưa biến mất. Chỉ có một thứ đã thay đổi là cường độ mãnh liệt của các ý kiến chống đối và nhiều mối quan tâm khác đang gia tăng bội phần cũng như nhiều nhà bảo vệ môi sinh và khoa học xã hội đã rung lên hồi chuông báo động về khả năng tàn phá do việc khai thác bô xít gây ra.

Khai thác bô xít dính dáng đến việc thải ra một chất độc hại cần phải được chứa đựng một cách an toàn và vĩnh viễn. Nhưng địa thế của vùng Cao nguyên Trung phần làm nó khó khăn hơn để chứa đựng chất bùn lỏng này một cách an toàn, ngăn ngừa không làm nhiễm bẩn những khu vực chung quanh cũng như ở dưới xuôi. Thêm nữa, nhiều nhà phê bình còn nhìn thấy nguy cơ cao hơn về tình trạng mà các công ty Trung Quốc đã trúng cả hai gói thầu xây dựng hai nhà máy sản xuất alumina (tốn gần 500 triệu Mỹ kim cho mỗi nhà máy), và có thể sẽ mon men vào cả các dự án khác nữa.

Sự quan tâm ở đây là các kỹ thuật sẽ không phải là loại tốt nhất hiện có, sẵn sàng để xử dụng. Ông Nguyễn Thành Sơn, một chuyên gia Việt Nam trong lãnh vực này, đồng thời cũng là một trong những người chống đối nổi bật nhất về kế hoạch khai thác bô xít, nói rằng phía Trung Quốc sở dĩ trúng thầu là vì các tiêu chuẩn kỹ thuật được hạ thấp xuống ngang hàng với phía Viêt Nam để cho các công ty Trung Quốc có thể đưa ra các giá cả hấp dẫn.

Chính Trung Quốc đã phải đương đầu với nhiều vấn nạn môi sinh nghiêm trọng liên quan đến việc khai thác bô xít, khiến họ phải đóng cửa nhiều mỏ bô xít ở tỉnh Quảng Tây ngay cả khi nhu cầu về bô xít đang trên đà gia tăng. Một số nhà phê bình vì thế cho rằng sự dính líu cao độ của Trung Quốc trong các dự án bô xít ở Việt Nam là một hình thức xuất cảng sự thoái hoá về môi sinh, trong khi cố gắng củng cố một nguồn cung cấp tài nguyên mới.

Về mặt năng lực kinh tế, thì các dự án dường như không khả quan gì, thậm chí với cả một phép phân tích lợi hại đơn giản. Vùng Cao nguyên Trung phần là nơi trồng trọt các loại cây hái ra tiền, cà phê, trà và cao su, đã thu được nhiều lượng ngoại tệ ngày càng gia tăng qua việc xuất cảng. Nhưng sự sống còn của các loại cây trồng này sẽ bị đe doạ nặng nề vì hai yếu tố then chốt sau.

Thứ nhất, khi có thêm các dự án được đưa vào thi hành, thì thêm nhiều đất đai sẽ bị thu dọn cho việc khai thác quặng bô xít và chứa đựng chất bùn độc hại. Sau khi quặng bô xít được khai thác xong, đất trồng sẽ không còn thích hợp để trồng trọt nếu không được cải tạo lại một cách kỹ lưỡng. Thứ hai, việc khai thác bô xít và sản xuất alumina đòi hỏi một nguồn cung cấp nước rộng rãi, vốn đã rất hạn chế trong vùng.

Từ kết quả đó, nguồn nước dành cho việc trồng trọt sẽ bị giảm thiểu trầm trọng, dẫn đến việc cây trồng bị kém năng suất. Cùng với nhau, hai yếu tố này đưa ra một nỗi ám ảnh về khả năng mất mát lợi thế so sánh của vùng này trong việc trồng trọt các loại cây có giá trị kinh tế cao, đồng thời thắt chặt khả năng phát triển một lợi thế so sánh mới về du lịch sinh thái, hi
n đang trở nên ngày càng phổ biến trên toàn thế giới.

Các tổn thất kinh tế thậm chí sẽ còn lớn hơn nhiều khi các trạng thái tiêu cực bên ngoài, bao gồm sự thoái hóa môi sinh, được tính cả vào. Mặt khác, các lợi lộc thì vẫn còn trong vòng nghi vấn. Ðiều đã được chỉ rõ ra cho thấy là với mức đầu tư tương tự, tỷ lệ lợi nhuận thu được từ một dự án bô xít thì còn ít hơn nhiều khi so sánh với việc trồng cà phê. Hơn nữa, để cạnh tranh, việc sản xuất alumina đòi hỏi một nguồn điện năng rẻ tiền và đã có sẵn mà Việt Nam hiện thời chưa có và sẽ không có sớm vào bất cứ lúc nào.

Với sự thiếu thốn điện lực triền miên, thì việc đưa loại năng lượng này vào xử dụng trong kế hoạch sản xuất alumina sẽ làm khó khăn này càng gia tăng trầm trọng thêm, và đặt các ngành sản xuất khác vào tình trạng hiểm nghèo.

Về các tác động xã hội và chính trị, việc đưa vào thi hành toàn bộ các dự án bô xít sẽ đẩy thêm ra ngoài lề xã hội các nhóm người dân tộc thiểu số trong vùng vì không gian sinh sống theo văn hóa tươi xanh của họ bị sa sút nặng nề, với khả năng gây ra mối căng thẳng xã hội trong một khu vực vốn đã có nhiều nhạy cảm. Cộng thêm vào đó, sự hiện diện của các công nhân Trung Quốc khai thác bô xít ở vùng quân sự chiến lược này đã gây ra nhiều cảm giác khó chịu trong một số người Việt.

Các phản ứng và hành động của nhà nước Việt Nam lại không thích đáng dưới những hoàn cảnh thuận lợi nhất. Vào tháng 11/2007, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký một chỉ thị chấp thuận cho kế hoạch khai thác, chế biến và xử dụng bô xít. Nhưng, cho đến lúc này, vẫn chưa có bất cứ sự định giá chiến lược nào về môi sinh được chấp thuận để thẩm định các ảnh hưởng môi sinh sẽ gây ra từ kế hoạch khai thác bô xít, đúng theo luật bảo vệ môi sinh của Việt Nam.

Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam Vinacomin, một doanh nghiệp do nhà nước làm chủ, được giao cho nhiệm vụ thi hành kế hoạch, đã tổ chức hai buổi hội thảo vào năm 2007 và 2008 để thẩm định các ảnh hưởng của dự án khai thác bô xít. Trong những dịp này, nhiều chuyên gia Việt Nam đã bày tỏ sự lo ngại sâu xa nhất về các ảnh hưởng tiêu cực nghiêm trọng sẽ gây ra từ dự án. Tuy nhiên, chẳng có gì gọi là quan trọng được cụ thể hoá để đối phó với các quan tâm này dù các dự án vẫn được đưa vào thực hiện.

Ðể đối phó với tình trạng bị chống đối liên tục này, Thủ tướng Dũng đã cho tổ chức một buổi họp để thảo luận các đề tài liên quan đến việc khai thác bô xít hồi đầu tháng Giêng năm nay. Ông ta giải quyết bằng cách chỉ đạo cho Bộ Công thương xin chỉ thị từ bộ chính trị đảng CSVN để tiếp tục theo đuổi dự án, đồng thời yêu cầu Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải tổ chức một cuộc hội thảo khoa học để tìm cách giải quyết vấn đề.

Mặc dù cuộc hội thảo được ấn định vào khoảng thời gian đầu tháng Tư, nhưng ông Hải đã thông báo cho biết vào tuần trước rằng các dự án ở Lâm Ðồng và Ðắc Nông vẫn sẽ được tiến hành như dự định. Ðiều này khiến các nhà quan sát nêu lên thắc mắc rằng, liệu không biết cuộc hội thảo có đưa ra được bất cứ các thay đổi ý nghĩa nào mà sẽ được chính phủ chấp nhận hay không.

Từ những phản ứng của nhà nước Việt Nam, một điều rõ ràng được thấy là họ có một quyết tâm chính trị rất kiên quyết để thực hiện cho bằng được kế hoạch khai thác bô xít mặc dù phải đương đầu với nhiều chống đối. Câu hỏi đưa ra là tại sao lại có một quyết tâm chính trị mạnh mẽ như thế cho một dự án có vẻ không được suông sẻ cho lắm. Nhiều nhà phê bình đã đưa ra vài câu trả lời suy đoán có thể xảy ra. Câu trả lời thường được đề cập nhiều nhất là ảnh hưởng của Trung Quốc qua các ngõ ngách chính trị ở tầng lớp chóp bu.

Ðiều thật sự khẩn cấp bây giờ là liệu nhà nước Việt Nam có cái dũng khí về chính trị để bao gồm một cách có ý nghĩa tất cả các thành phần liên quan đến dự án bô xít và sửa chữa các khuyết điểm trước khi quá trễ.

http://asiasentinel.com/index.php?option=com_content&task=view&id=1782&Itemid…

Leave a Comment »

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Leave a Reply

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Một dự án khai thác quặng mỏ thử thách giới cầm quyền ở Việt Nam

23 March, 2009 at 7:24 pm | Posted in Uncategorized | Leave a comment

Trung Quốc tìm cách khai thác các mỏ bô xít ở các vùng nhạy cảm về môi sinh và xã hội

Anh Le Tran, Asia Sentinel 23/3/09, Phan Lưu Quỳnh lược dịch

http://tiengnoitudodanchu.org/modules.php?name=News&file=article&sid=7239

Các nhà bảo vệ môi sinh và khoa học xã hội ở Việt Nam ngày càng gia tăng sự lo âu về những mối liên can giữa môi sinh, xã hội, kinh tế và chính trị đằng sau một kế hoạch của chính phủ nhằm cho phép các công ty Trung Quốc đang thèm khát khoáng sản được phát triển một dự án khai thác quặng bô xít to lớn ở Cao nguyên Trung phần.

Việt Nam được ước lượng là có đến 8 tỷ tấn quặng bô xít, dùng để sản xuất alumina, một loại bột trắng được nung chảy để chế biến ra nhôm. Hai dự án lớn để khai thác bô xít và và sản xuất alumina đã được triển khai ở Lâm Ðồng và Ðắc Nông. Nhà nước Việt Nam đã ước tính là họ sẽ cần đến 20 tỷ Mỹ kim đầu tư cho đến năm 2025 để xử dụng vào việc khai thác nguồn tài nguyên này. Trung Quốc liền nhảy vào.

Cái ý tưởng khai thác nguồn tài nguyên bô xít phong phú không có gì là mới mẻ. Cách đây không lâu lắm vào khoảng thập niên 1980s, khi đất nước vẫn còn là thành viên của Hội đồng Tương trợ kinh tế (CMEA), một khối hợp tác và phát triển kinh tế do Liên Xô và các quốc gia cộng sản Ðông Âu thành lập, thì Việt Nam đã đệ trình lên Hội đồng một chương trình khai thác bô xít. Nhưng sau khi các nhà phân tích Liên Xô nghiên cứu về tính khả thi của chương trình này, thì Hội đồng Tương trợ kinh tế đã bác bỏ ý tưởng khai thác bô xít đó, phần lớn là do các mối quan ngại nghiêm trọng về môi sinh.

Những mối quan ngại đó vẫn chưa biến mất. Chỉ có một thứ đã thay đổi là cường độ mãnh liệt của các ý kiến chống đối và nhiều mối quan tâm khác đang gia tăng bội phần cũng như nhiều nhà bảo vệ môi sinh và khoa học xã hội đã rung lên hồi chuông báo động về khả năng tàn phá do việc khai thác bô xít gây ra.

Khai thác bô xít dính dáng đến việc thải ra một chất độc hại cần phải được chứa đựng một cách an toàn và vĩnh viễn. Nhưng địa thế của vùng Cao nguyên Trung phần làm nó khó khăn hơn để chứa đựng chất bùn lỏng này một cách an toàn, ngăn ngừa không làm nhiễm bẩn những khu vực chung quanh cũng như ở dưới xuôi. Thêm nữa, nhiều nhà phê bình còn nhìn thấy nguy cơ cao hơn về tình trạng mà các công ty Trung Quốc đã trúng cả hai gói thầu xây dựng hai nhà máy sản xuất alumina (tốn gần 500 triệu Mỹ kim cho mỗi nhà máy), và có thể sẽ mon men vào cả các dự án khác nữa.

Sự quan tâm ở đây là các kỹ thuật sẽ không phải là loại tốt nhất hiện có, sẵn sàng để xử dụng. Ông Nguyễn Thành Sơn, một chuyên gia Việt Nam trong lãnh vực này, đồng thời cũng là một trong những người chống đối nổi bật nhất về kế hoạch khai thác bô xít, nói rằng phía Trung Quốc sở dĩ trúng thầu là vì các tiêu chuẩn kỹ thuật được hạ thấp xuống ngang hàng với phía Viêt Nam để cho các công ty Trung Quốc có thể đưa ra các giá cả hấp dẫn.

Chính Trung Quốc đã phải đương đầu với nhiều vấn nạn môi sinh nghiêm trọng liên quan đến việc khai thác bô xít, khiến họ phải đóng cửa nhiều mỏ bô xít ở tỉnh Quảng Tây ngay cả khi nhu cầu về bô xít đang trên đà gia tăng. Một số nhà phê bình vì thế cho rằng sự dính líu cao độ của Trung Quốc trong các dự án bô xít ở Việt Nam là một hình thức xuất cảng sự thoái hoá về môi sinh, trong khi cố gắng củng cố một nguồn cung cấp tài nguyên mới.

Về mặt năng lực kinh tế, thì các dự án dường như không khả quan gì, thậm chí với cả một phép phân tích lợi hại đơn giản. Vùng Cao nguyên Trung phần là nơi trồng trọt các loại cây hái ra tiền, cà phê, trà và cao su, đã thu được nhiều lượng ngoại tệ ngày càng gia tăng qua việc xuất cảng. Nhưng sự sống còn của các loại cây trồng này sẽ bị đe doạ nặng nề vì hai yếu tố then chốt sau.

Thứ nhất, khi có thêm các dự án được đưa vào thi hành, thì thêm nhiều đất đai sẽ bị thu dọn cho việc khai thác quặng bô xít và chứa đựng chất bùn độc hại. Sau khi quặng bô xít được khai thác xong, đất trồng sẽ không còn thích hợp để trồng trọt nếu không được cải tạo lại một cách kỹ lưỡng. Thứ hai, việc khai thác bô xít và sản xuất alumina đòi hỏi một nguồn cung cấp nước rộng rãi, vốn đã rất hạn chế trong vùng.

Từ kết quả đó, nguồn nước dành cho việc trồng trọt sẽ bị giảm thiểu trầm trọng, dẫn đến việc cây trồng bị kém năng suất. Cùng với nhau, hai yếu tố này đưa ra một nỗi ám ảnh về khả năng mất mát lợi thế so sánh của vùng này trong việc trồng trọt các loại cây có giá trị kinh tế cao, đồng thời thắt chặt khả năng phát triển một lợi thế so sánh mới về du lịch sinh thái, hi
n đang trở nên ngày càng phổ biến trên toàn thế giới.

Các tổn thất kinh tế thậm chí sẽ còn lớn hơn nhiều khi các trạng thái tiêu cực bên ngoài, bao gồm sự thoái hóa môi sinh, được tính cả vào. Mặt khác, các lợi lộc thì vẫn còn trong vòng nghi vấn. Ðiều đã được chỉ rõ ra cho thấy là với mức đầu tư tương tự, tỷ lệ lợi nhuận thu được từ một dự án bô xít thì còn ít hơn nhiều khi so sánh với việc trồng cà phê. Hơn nữa, để cạnh tranh, việc sản xuất alumina đòi hỏi một nguồn điện năng rẻ tiền và đã có sẵn mà Việt Nam hiện thời chưa có và sẽ không có sớm vào bất cứ lúc nào.

Với sự thiếu thốn điện lực triền miên, thì việc đưa loại năng lượng này vào xử dụng trong kế hoạch sản xuất alumina sẽ làm khó khăn này càng gia tăng trầm trọng thêm, và đặt các ngành sản xuất khác vào tình trạng hiểm nghèo.

Về các tác động xã hội và chính trị, việc đưa vào thi hành toàn bộ các dự án bô xít sẽ đẩy thêm ra ngoài lề xã hội các nhóm người dân tộc thiểu số trong vùng vì không gian sinh sống theo văn hóa tươi xanh của họ bị sa sút nặng nề, với khả năng gây ra mối căng thẳng xã hội trong một khu vực vốn đã có nhiều nhạy cảm. Cộng thêm vào đó, sự hiện diện của các công nhân Trung Quốc khai thác bô xít ở vùng quân sự chiến lược này đã gây ra nhiều cảm giác khó chịu trong một số người Việt.

Các phản ứng và hành động của nhà nước Việt Nam lại không thích đáng dưới những hoàn cảnh thuận lợi nhất. Vào tháng 11/2007, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký một chỉ thị chấp thuận cho kế hoạch khai thác, chế biến và xử dụng bô xít. Nhưng, cho đến lúc này, vẫn chưa có bất cứ sự định giá chiến lược nào về môi sinh được chấp thuận để thẩm định các ảnh hưởng môi sinh sẽ gây ra từ kế hoạch khai thác bô xít, đúng theo luật bảo vệ môi sinh của Việt Nam.

Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam Vinacomin, một doanh nghiệp do nhà nước làm chủ, được giao cho nhiệm vụ thi hành kế hoạch, đã tổ chức hai buổi hội thảo vào năm 2007 và 2008 để thẩm định các ảnh hưởng của dự án khai thác bô xít. Trong những dịp này, nhiều chuyên gia Việt Nam đã bày tỏ sự lo ngại sâu xa nhất về các ảnh hưởng tiêu cực nghiêm trọng sẽ gây ra từ dự án. Tuy nhiên, chẳng có gì gọi là quan trọng được cụ thể hoá để đối phó với các quan tâm này dù các dự án vẫn được đưa vào thực hiện.

Ðể đối phó với tình trạng bị chống đối liên tục này, Thủ tướng Dũng đã cho tổ chức một buổi họp để thảo luận các đề tài liên quan đến việc khai thác bô xít hồi đầu tháng Giêng năm nay. Ông ta giải quyết bằng cách chỉ đạo cho Bộ Công thương xin chỉ thị từ bộ chính trị đảng CSVN để tiếp tục theo đuổi dự án, đồng thời yêu cầu Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải tổ chức một cuộc hội thảo khoa học để tìm cách giải quyết vấn đề.

Mặc dù cuộc hội thảo được ấn định vào khoảng thời gian đầu tháng Tư, nhưng ông Hải đã thông báo cho biết vào tuần trước rằng các dự án ở Lâm Ðồng và Ðắc Nông vẫn sẽ được tiến hành như dự định. Ðiều này khiến các nhà quan sát nêu lên thắc mắc rằng, liệu không biết cuộc hội thảo có đưa ra được bất cứ các thay đổi ý nghĩa nào mà sẽ được chính phủ chấp nhận hay không.

Từ những phản ứng của nhà nước Việt Nam, một điều rõ ràng được thấy là họ có một quyết tâm chính trị rất kiên quyết để thực hiện cho bằng được kế hoạch khai thác bô xít mặc dù phải đương đầu với nhiều chống đối. Câu hỏi đưa ra là tại sao lại có một quyết tâm chính trị mạnh mẽ như thế cho một dự án có vẻ không được suông sẻ cho lắm. Nhiều nhà phê bình đã đưa ra vài câu trả lời suy đoán có thể xảy ra. Câu trả lời thường được đề cập nhiều nhất là ảnh hưởng của Trung Quốc qua các ngõ ngách chính trị ở tầng lớp chóp bu.

Ðiều thật sự khẩn cấp bây giờ là liệu nhà nước Việt Nam có cái dũng khí về chính trị để bao gồm một cách có ý nghĩa tất cả các thành phần liên quan đến dự án bô xít và sửa chữa các khuyết điểm trước khi quá trễ.

http://asiasentinel.com/index.php?option=com_content&task=view&id=1782&Itemid…

Leave a Comment »

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Leave a Reply

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Blog at WordPress.com.
Entries and comments feeds.

%d bloggers like this: