Băng hoại xã hội – Nguyên nhân và hướng giải quyết

20 April, 2010 at 9:21 am | Posted in Uncategorized | Leave a comment

Kim Châm – RadioCTM

http://viettan.org/spip.php?article9733

Thời gian gần đây báo chí trong nước liên tục đưa tin về những vụ việc lạm dụng tình dục ở khắp nơi tại Việt Nam. Chỉ cần tìm kiếm trên internet với cụm từ “cưỡng bức”, người ta sẽ nhận được khá nhiều kết quả khiến phải giật mình.

Điều đáng bàn là tình trạng đạo đức xã hội bị xuống cấp nghiêm trọng này không chỉ xuất hiện ở thôn quê, nơi thành phố, trong cuộc sống thường ngày của dân gian; mà nó còn là hiện tượng đáng báo động trong đời sống đạo đức của các quan chức, kể cả những người lãnh đạo hệ thống giáo dục. Vụ hiệu trưởng mua dâm nữ sinh tại tỉnh Hà Giang với danh sách đen một loạt các quan chức đầu ngành tại tỉnh này là một ví dụ cụ thể.

Một trong những lý do khiến các giá trị đạo đức xã hội bị đảo lộn, phẩm giá con người bị coi rẻ này là sự buông thả trong việc quản lý, định hướng và phát triển xã hội của những người lãnh đạo. Hãy nhìn xem, có đất nước nào mà việc xuất bản một quyển sách nói về tình dục lại dễ dàng hơn những trang viết trăn trở về số phận con người và thực tế xã hội. Những tác phẩm có giá trị nhân văn như “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư, hay “Thời của thánh thần” của Bùi Ngọc Tấn, phải qua bao nhiêu lần kiểm duyệt và phê phán trước khi xuất hiện trước công chúng? Quyển “Thời của thánh thần” bị đình bản vì lý do “nhạy cảm”, trong khi đó thì quyển “Sợi Xích”, một tiểu thuyết được coi là dâm thư, thì lại được ra mắt một cách rầm rộ. Sự so sánh này sẽ cho người ta nhận thấy rõ ràng là sự định hướng và kiểm duyệt của các quan chức văn hoá tư tưởng có vấn đề. Nhưng, đây chỉ là một bộ phận trong cỗ máy nhà nước đang chạy rất trơn tru trên con đường đưa Việt Nam xuống hố thẳm.

Theo các thống kê, Việt Nam là một trong những quốc gia có tỉ lệ người dân sử dụng Google để tìm kiếm những bài vở và hình ảnh mang nội dung có liên quan đến từ ngữ “sex” trên Internet cao nhất nhì trên cả thế giới. Rất nhiều trang mạng cá nhân, và ngay cả các trang web có gốc từ các ban ngành nhà nước, đã đăng tải nhiều hình ảnh và bài vở xoay quanh chủ đề “sex”. Chỉ cần vào chuyên mục giới tính trên các trang Bee.net, Ngoisao.net, Vnexpress.net… người ta sẽ dễ dàng bắt gặp các chủ đề liên quan đến tình dục. Trên các kênh truyền hình, những đoạn quảng cáo tìm bạn tình, khám phá khả năng tình dục… được phát đi phát lại mỗi ngày, và nhiều thanh niên thiếu nữ bị thu hút vào các đoạn quảng cáo này.

Trong khi đó, nếu tìm kiếm bằng Google với cụm từ “Hoàng Sa – Trường Sa”, người ta chỉ nhận được hầu hết tin tức về bắt bớ, tin tức liên quan đến việc những người dùng phương tiện internet để gióng lên tiếng nói, đòi lại chủ quyền của những mảnh đất thiêng liêng của cha ông để lại, đã và đang bị trù dập, bỏ tù, như blogger Osin (nhà báo Huy Đức), blogger Điếu Cày, các thành viên câu lạc bộ nhà báo tự do như bà Tạ Phong Tần (blogger Công Lý Sự Thật), ông Phan Thanh Hải (blogger Anh Ba Sài Gòn)…

Từ những thực tế vừa nêu, đi kèm với sự kiểm soát thông tin trên Internet và hệ thống truyền thông độc quyền và chặt chẽ của nhà nước Việt Nam, người ta dễ dàng nhận ra rằng, việc “buông thả” và “ngăn cấm” này phải là CHÍNH SÁCH của giới cầm quyền CSVN, nhằm đánh lạc hướng quan tâm của quần chúng, đặc biệt là giới thanh niên; vì họ biết rằng, nếu những vấn đề “nhạy cảm” có cơ hội bùng nổ dây chuyền, thì chế độ của họ sẽ nhanh chóng bị xụp đổ.

Việc buông thả trong quản lý các website đăng tải thông tin về các chủ đề “sex”, đồng thời mạnh tay trấn áp, đánh sập các trang mạng đăng tải những thông tin phản ánh hiện trạng đất nước và mối nguy cơ bị xâm lược từ Trung Quốc của nhà nước CSVN, khiến người ta dễ dàng liên tưởng đến việc các lãnh đạo Liên Xô cho trình chiếu những thước phim “tươi mát XXX” ngay trên đài truyền hình quốc gia, để lôi kéo thanh niên không xuống đường theo lời kêu gọi của ông Yeltsin vào những ngày cuối cùng của chế độ cộng sản tại Nga năm nào.

Xã hội Việt Nam ngày một nhiễu loạn, các tiêu chuẩn đạo đức làm người ngày càng bị xem nhẹ và mất dần. Đúng, sai, thiện, ác,… là những điều mà ngay từ tấm bé người ta đã cảm nhận được trong đời sống hàng ngày từ gia đình, từ xã hội, và từ sự giáo dục. Nhưng nay thì con người càng ngày càng khó phân biệt lằn ranh đúng-sai trong cách hành xử. Với nhiều người thì tình trạng hiện nay là điềm báo mạt vận của một triều đại, một chế độ. Tuy nhiên, nếu nhìn sự việc một cách khoa học, thì hiện trạng xã hội hiện nay chính là hệ quả của sự bỏ mặc đất nước của giới cầm quyền. Nhìn lại lịch sử người ta thấy rằng, mọi triều đại khi bước vào giai đoạn suy tàn thì giới cầm quyền chủ yếu chỉ tập trung vào ba việc: vơ vét, hưởng thụ, và trấn áp dân chúng. Giới cầm quyền CSVN hiện nay xem ra không khác những triều đại phong kiến mạt vận hay thời cuối của các chế độ độc tài trên thế giới là mấy — tham nhũng tràn lan, ăn chơi sa đoạ, và thẳng tay trấn áp những người tranh đấu cho công bằng, công lý và chủ quyền thiêng liêng của dân tộc.

Giai đoạn suy tàn của một chế độ, một triều đại, với những đặc tính nêu trên, ngắn hay dài tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố; nhưng quan trọng nhất vẫn là nhân dân. Tình trạng băng hoại xã hội chỉ có thể chấm dứt và giai đoạn phục hưng dân trí và dân khí chỉ có thể bắt đầu, khi mà cái chế độ sản sinh ra tình trạng băng hoại đó không còn tồn tại nữa. Điều này tuỳ thuộc vào mọi người dân Việt chúng ta.

Advertisements

35 năm tiêu diệt ý thức con người !!!

16 April, 2010 at 9:07 am | Posted in Uncategorized | Leave a comment


Xã luận bán nguyệt san Tự do Ngôn luận số 97 (15-04-2010)

Tại Việt Nam, nhà cầm quyền Cộng sản đang rầm rộ tổ chức cái gọi là kỷ niệm «35 năm giải phóng miền Nam». Ở hải ngoại và cả quốc nội, đồng bào cũng không quên tưởng niệm Ngày Quốc hận, ghi nhớ biến cố toàn thể đất Việt rơi vào ách thống trị của một chủ nghĩa, chế độ và chính đảng vô gia đình, vô tôn giáo và vô tổ quốc.

Dù bộ máy tuyên truyền của CS hết sức tô vẽ cái gọi là «sự nghiệp giải phóng, thành quả cách mạng» sau 35 năm, nhưng không ai không nhận thấy VN đang ngày càng thụt lùi về kinh tế, hỗn loạn về xã hội, hà khắc về chính trị, ô nhiễm về môi trường, sa sút về văn hóa, suy đồi về đạo đức, thu hẹp về đất đai và bấp bênh về an ninh quốc phòng… Vì đường lối quản lý xã hội và điều hành kinh tế có thể do bất lực sai lầm nhưng cũng có thể do thâm ý tàn độc của Cộng sản, đại đa số nhân dân VN đang sống trong nghèo nàn khốn khổ bên cạnh một thiểu số đảng viên cán bộ giàu nứt đố đổ vách, đằng sau vài phố thị phát triển hiện đại là vô số gia cư ổ chuột và mênh mông thôn dã bần cùng. Nếu cho rằng CS từng mong muốn đem lại công bằng xã hội như họ hằng rêu rao thì quả là họ đã hoàn toàn thất bại về mặt dân sinh, kinh tế. Nhưng điều đáng tổng kết sau hơn 1/3 thế kỷ CS cai trị nước Việt, đó chính là sự thất bại về mặt tinh thần, hay nói đúng hơn là sự hủy diệt ý thức của đủ mọi hạng người trong xã hội, mà CS là thủ phạm, y như một nhà văn Nga từng nói : «CS thực chất là một sự ác tinh thần» (Le communisme est un mal spirituel).

1- Tiêu diệt ý thức đại diện quốc dân nơi các thành viên Quốc hội. Được ngồi vào cơ quan quyền lực cao nhất nước trên danh nghĩa này không do dân bầu nhưng do đảng cử, các thành viên Quốc hội, qua hơn 12 khóa, đã chỉ làm một công việc là «giơ tay», «nhất trí cao, phấn khởi lớn» trước ý muốn của đảng, của Bộ chính trị. Những cuộc gặp gỡ, lấy ý kiến cử tri địa phương chỉ là trò mỵ dân ; những cuộc chất vấn các thành viên chính phủ thuần là màn trình diễn. Từ công hàm Phạm Văn Đồng năm 1958, qua hai hiệp định lãnh thổ và lãnh hải năm 1999 rồi 2000, đến vụ khai thác Bauxite Tây Nguyên 2008 (đây chỉ kể những việc nổi cộm), Quốc hội chẳng hề đứng về phía nhân dân để tìm hiểu, chất vấn, phản biện và hành động, một để cho Bộ chính trị và Trung ương đảng mặc sức tung hoành, dù bất lợi và nguy hiểm cho đất nước.

2- Tiêu diệt ý thức phục vụ công chúng nơi các nhân viên công quyền. Ý thức này đã bị tiêu diệt ngay từ đầu, qua việc họ là những người đã được đảng bộ trung ương hay địa phương tuyển chọn đặt để, nghĩa là không được nhân dân trao quyền, nhưng là cướp quyền từ tay nhân dân (những cuộc bầu cử hội đồng nhân dân các cấp chỉ là trò hề). Thành thử họ đã cư xử như những ông trời con, hung thần thổ địa, hống hách khinh người, chỉ lo tích lũy của cải hơn là phục vụ. Lối nói mai mỉa «hành là chính», những cơ ngơi đồ sộ của các «đầy tớ nhân dân» được phơi bày trên mạng Câu lạc bộ «Nókìa», những màn «cướp cơm chim» của kẻ bần cùng và nạn nhân bão lụt, những cuộc biểu tình vô vọng của dân oan bị lấy đất trước các trụ sở ủy ban xã huyện tỉnh, những cuộc đánh phá của các lãnh đạo chính quyền nhắm vào tôn giáo tại Thái Hà, Tam Tòa, Loan Lý, Cồn Dầu, Nha Trang, Lâm Đồng, Vĩnh Long, Thủ Đức… và mới đây là việc các tỉnh cho Trung Cộng thuê rừng quốc phòng và phòng hộ là những bằng cớ không ai có thể chối cãi.   

3- Tiêu diệt ý thức tôn trọng và bảo vệ nhân dân nơi giới công an cảnh sát. Bị nhồi sọ bởi tư tưởng : được đảng gầy dựng, lãnh đạo, trả lương, coi như lực lượng bảo vệ đảng, thấm nhuần «lời thề danh dự : Tuyệt đối trung thành với Đảng CSVN, với Nhà nước CHXHCNVN… Nghiêm chỉnh và triệt để chấp hành mọi chủ trương đường lối, chính sách của Đảng… » (trích từ 5 lời thề của CAND), giới này đã trở thành công cụ đàn áp dân oan và giáo oan (có khi với cung cách côn đồ) khi họ đứng lên đòi quyền lợi trong các vụ biểu tình, phản kháng, khiếu kiện đơn lẻ hay tập thể ; thành «lực lượng đối thọi» với các nhà dân chủ cất tiếng đòi dân chủ tự do, thành kẻ hỗ trợ cho công tố viên trong các phiên tòa chính trị, và gần đây là thành nỗi kinh hoàng cho bất cứ ai bị bắt về đồn công an cảnh sát với bất cứ lý do «vi phạm» lớn nhỏ (vụ anh Nguyễn Quốc Bảo hôm 21-01 mới rồi tại Hà Nội là một ví dụ).

4- Tiêu diệt ý thức bảo vệ Tổ quốc nơi hàng ngũ quân đội : Luôn khắc ghi lời thề «dưới sự lãnh đạo của Đảng CSVN, phấn đấu thực hiện một nước VN xã hội chủ nghĩa… Gương mẫu chấp hành và vận động nhân dân thực hiện mọi đường lối, chủ trương của Đảng…» (trích 10 lời thề của QĐND), nhất là từ khi thay thế khẩu hiệu «Trung với nước hiếu với dân» bằng khẩu hiệu «trung với đảng…», rồi được cho làm kinh tế tự do, quân đội nhân dân đã thực sự trở thành công cụ của đảng, chỉ lo làm giàu (nhất là hàng lãnh đạo vốn nắm vô số công ty lớn nhỏ), quên lãng bổn phận bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt trên lãnh hải, bỏ mặc ngư dân cho sự sách nhiễu, cướp bóc, tàn sát của Trung Cộng (vì chủ trương của đảng hiện thời là thần phục TC và xây dựng XHCN theo tấm gương và trong sự liên kết với TC). Dĩ nhiên từng có những chiến sĩ oai hùng trong cuộc xâm lăng của «Đại Hán» năm 1979 (Việt Bắc) và năm 1988 (Trường Sa), cũng như có một số tướng lĩnh sĩ quan và nhiều quân nhân còn ưu tư vận nước, nhưng quân đội xét chung nay hoàn toàn bị khống chế bởi những thành phần tay sai Bắc triều trong Bộ chính trị hay Bộ quốc phòng.

5- Tiêu diệt ý thức bảo vệ luật pháp và công lý nơi các luật sư. Do việc các Đại học luật khoa và các luật sư đoàn độc lập ở miền Nam bị xóa sổ ngay sau năm 1975 và chỉ mới được tái lập gần đây, nhưng dưới sự cầm trịch của CS, giới luật sư hiện giờ nói riêng và ngành tư pháp nói chung bị biến thành công cụ của đảng, theo cơ chế tam quyền phân công hay tam quyền nhất lập. Rất nhiều luật sư từng than phiền họ bị công an cản trở việc tiếp xúc với các thân chủ trong các vụ án, nhất là vụ án chính trị. Tại những phiên tòa loại này, các thẩm phán thường có những «bản án bỏ túi» do trên ấn định sẵn và ý kiến của các luật sư công tâm bị xem thường. Báo chí cũng hay nói đến việc chạy án, việc quan tòa và công tố ăn hối lộ, việc đào tạo luật sư hay thẩm phán cách qua loa. Ngoài những luật gia hay luật sư có tinh thần dân chủ (nay xuất hiện ngày càng nhiều và cũng bị đàn áp không ít), vô số luật sư vẫn sẵn sàng loại trừ các đồng nghiệp «có vấn đề» với đảng, sẵn sàng bênh vực hay ngậm miệng trước nhiều bộ luật chỉ có lợi cho đảng mà thôi.

6- Tiêu diệt ý thức thương xót bệnh nhân nơi các y bác sĩ : Nền y tế VN từ lâu vẫn nổi tiếng thế giới với những bệnh viện quá tải, trang bị lỗi thời, vệ sinh tồi tệ ; với cảnh bỏ mặc những ca cấp cứu chưa nộp tiền, đối xử ngược với châm ngôn «lương y như từ mẫu», đòi bệnh nhân hối lộ mới săn sóc tốt, cung cấp thuốc quá hạn hay thuốc dổm, ăn hoa hồng quá độ khiến giá y dược bị đẩy lên tận trời, ưu tiên săn sóc cho đảng viên cán bộ, coi rẻ những người dùng thẻ bảo hiểm y tế và dân nghèo vào bệnh viện chỉ có nước tử vong… Nhân dân chua chát bảo rằng từ ngữ «nhà thương» nay hoàn toàn vô nghĩa, vì ở đó chỉ có sự khai thác nỗi khổ đau của con người.

7- Tiêu diệt ý thức làm chứng cho sự thật và lẽ phải nơi giới tu hành : Cộng sản từng phỉ báng tôn giáo là thuốc phiện ru ngủ nhân dân, nhưng nay lại muốn tôn giáo trở thành thuốc phiện thực sự. Và họ đang làm được điều đó với những chức sắc chỉ còn biết ý nghĩa cuộc sống và hoạt động tu hành của mình là xây dựng điện thờ nguy nga, tổ chức lễ hội rầm rộ, ra ngoại quốc làm mục vụ xin tiền, mà hoàn toàn dửng dưng trước cảnh đồng bào bị đàn áp, xã hội bị băng hoại, tổ quốc bị lâm nguy… Những vị này còn lý luận mình không muốn làm chính trị, chỉ lên tiếng về các nguyên tắc luân lý chung chung (an toàn hơn) chứ không can thiệp vào những trường hợp cụ thể (dễ gặp nguy hiểm), sẵn sàng đặt tượng tên tội đồ dân tộc, từng bách hại tôn giáo bên cạnh Đức Phật trên điện thờ hay lấy tên của y làm danh hiệu cho giáo phận…

8- Tiêu diệt ý thức lương sư giáo dục nơi các thầy cô giáo : Nền giáo dục CS là nền giáo dục mang tính chính trị, không nhắm đào tạo những công dân tự do và trưởng thành cho đất nước nhưng là nhào nặn ra những thần dân khiếp nhược và nô lệ cho đảng. Chính vì thế CS đã cố gắng huấn luyện ra những thầy cô «hồng hơn chuyên », bó buộc hiệu trưởng mọi loại trường (trừ một số trường mẫu giáo của các giáo hội) phải là đảng viên để nắm chắc đường lối chủ trương của đảng, để theo dõi tư tưởng lập trường của mọi giáo viên và học sinh. Thành ra nền giáo dục VN ngày càng sa sút với vô số giáo viên thiếu tư cách, thiếu khả năng («đứng nhầm lớp»), với vô số vụ việc thầy bạo hành trò, đổi tình lấy điểm, bắt học sinh làm điếm (như tại tỉnh Hà Giang), bỏ mặc công an dân quân hành hạ học trò (vụ sinh viên Vũ Hoàng Quang), với việc giáo sư cấm sinh viên biểu tình chống Trung Quốc để bày tỏ lòng yêu nước… Từ đó, sinh ra một hậu quả khủng khiếp là sự ngây thơ, trong sáng, chân thật nơi các học sinh cũng bị tiêu tùng. Điều này dễ nhận thấy qua việc tệ nạn học đường ngày càng gia tăng với vô số vụ học sinh đánh lộn nhau (ngay cả trẻ nữ), hành hung thầy, học hành kiểu gian dối hay kiểu đối phó, dùng tiền hay tình để mua điểm, thậm chí sẵn sàng nhắm mắt theo lệnh những kẻ điều khiển «Đoàn thanh niên côn đồ HCM» như trong vụ Thái Hà và Tòa Khâm sứ tại Hà Nội.

«Thành quả quan trọng» của 35 năm CS cai trị chính là những điều vừa nói trên. Tất cả cho thấy sự ghê gớm và ghê tởm của chủ nghĩa lẫn chế độ CS. Sở dĩ có thành quả kinh hoàng này, đó là vì ngay sau khi chiếm được miền Nam cách đây đúng 35 năm, CS đã hành xử không chút tình đồng loại, tình đồng bào, tình dân tộc qua việc lăng nhục, hành hạ, giam nhốt, đọa đày, cướp tài sản, đuổi đi kinh tế mới hàng triệu con người cùng da vàng máu đỏ như họ (xem bài So sánh ngày 8-4-1865 của HK và ngày 30-4-1975 của VN trong tập). Nhân đã ra sao thì quả cũng thế. Khởi sự thế nào thì kết thúc cũng y như vậy.

BAN BIÊN TẬP

Xung đột 1979 là trách nhiệm của ai?

14 April, 2010 at 10:34 pm | Posted in Uncategorized | Leave a comment

Tiến sĩ Hoàng Kim Phúc

Đại học Oxford, Anh Quốc

Quân Trung Quốc đánh Lạng Sơn năm 1979

Năm tôi lên chín, Trung Quốc tấn công Việt Nam trên toàn tuyến biên giới phía Bắc.

Yếu tố chính trị trực tiếp nào đưa đến cuộc chiến năm 1979? Có phải là xu hướng “ly khai” của cộng đồng Hoa kiều phía Nam khi đòi giữ ngoại tịch và chối bỏ quốc tịch Việt Nam vào nửa cuối thập niên 70?

Hay là chính sách bài trừ tư bản mà cộng đồng Hoa kiều bị ảnh hưởng nhiều nhất? Hay đó là câu trả lời cho cuộc chiến của Việt Nam với Cambodia nhằm trừ khử Khme Đỏ, khi đó đang được Trung Quốc đỡ đầu?

Phải chăng Trung Quốc gây chiến để dằn mặt khi Việt Nam đang giao hảo chặt chẽ với Liên Xô và mở rộng ảnh hưởng tới Lào và Cambodia? Hay để Trung Quốc lấy điểm với Mỹ vì lúc đó chiến tranh lạnh vẫn đang căng thẳng?

Hay nó đơn thuần để giải quyết những xung đột nội bộ Trung Quốc để lại từ thời kì Tứ Nhân Bang ? Tất cả những khả năng trên các sử gia phương Tây cho tới nay vẫn chưa ai có số liệu thật đầy đủ và thuyết phục.

Vết thương khó lành

Nhưng cho dù với bất cứ lí do gì thì đây cũng là một cuộc chiến hết sức man rợ và vô nhân đạo, vì chưa đầy 30 ngày mà gần một trăm ngàn người (60-100 ngàn theo các số liệu khác nhau) của cả hai phía đã thương vong.

Chừng nào những ẩn số lịch sử về nguyên nhân cuộc chiến chưa được sáng tỏ trước cộng luận và lịch sử thế giới thì chừng đó nguy cơ để xảy ra những tranh chấp tương tự giữa Trung Quốc và các nước láng giềng còn có cơ hội tái diễn, đặc biệt khi nền chính trị tại quốc gia khổng lồ này còn dựa trên nền tảng độc tài toàn trị.

Mặc dù cuộc chiến đẫm máu chính thức diễn ra khá ngắn ngủi nhưng những đợt pháo kích dai dẳng dọc tuyến biên giới, kéo dài nhiều năm sau đó mới để lại những “vết thương” khó lành trong kí ức đương đại của dân chúng Việt Nam, đặc biệt là dân miền Bắc.

Làng tôi sống khi ấy gồm ba xóm, nay thuộc quận Ba Đình, vậy mà cũng có tới hai anh đi bộ đội bị pháo chết trên “chốt”.

Từ “lên chốt” đã có lúc được nhiều thanh niên nhắc tới như “ác mộng”. Dù mục tiêu chiến lược của việc tấn công Việt Nam vẫn còn nhiều uẩn khúc lịch sử nhưng về mặt nào đó Trung Quốc đã thành công trong việc gây nên một tâm lý lo lắng bất ổn, pha sự sợ hãi trong các thành phần dân chúng Việt Nam.

Tuy nhiên điều Trung Quốc không lường hết là cuộc chiến 79 giống như một nhát cuốc tàn bạo, lật thẳng “tấm ván thiên” chôn nỗi căm thù sâu thẳm và âm ỷ của các dân tộc Việt với kẻ xâm lược ngàn năm từ phương Bắc.

Sự căm thù tưởng đã có lúc bị vùi lấp đi bởi “tấm tình đồng chí” môi hở răng lạnh, hay bởi những luận điệu tuyên truyền “Núi liền núi, sông liền sông” hữu hảo.

Xâm lăng 1979 đã đánh mạnh vào lòng tự hào của các dân tộc Việt, cái mà ở chừng mực nào đó đã giúp họ tồn tại anh dũng bên cạnh “đế quốc” Trung Hoa trong ngàn năm không bị đồng hóa, kể từ chiến thắng Bạch Đằng.

Mục đích Trung Quốc dạy cho Việt Nam một bài học bằng cuộc chiến 1979 có lẽ cũng man dại và phản tác dụng không khác gì việc trước đó quân đội Mỹ ném bom rải thảm nhằm đưa Hà Nội quay lại “thời kì đồ đá”.

Về mặt lịch sử, chiến tranh 79 là một mũi tiêm chủng tái khởi động ý thức đề kháng mãnh liệt chống lại dã tâm tạo ảnh hưởng và “kiểm soát” của Trung Quốc với Việt Nam ở hiện tại và tương lai.

Với những kí ức và thông tin của riêng mình có được, tôi không hề nghĩ rằng cuộc chiến tranh 1979 chỉ dừng lại ở khẩu hiệu của Đặng là “dạy cho Việt Nam một bài học”.

Cuộc chiến kéo dài

Cuộc chiến đã không thực sự kết thúc sau năm 1979. Hơn thế, nó là một tính toán lâu dài, thậm chí nó là một phần trong cả một chính sách lớn của Trung Quốc với Việt Nam mà hành động phát lộ đầu tiên là đánh chiếm Hoàng Sa năm 1974. Mặc dù trước đó lính Trung Quốc đã lấn chiếm bằng cách di dời cột mốc biên giới khi giúp chính quyền Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà làm đường.

Sự ngẫu nhiên của số phận và nghề nghiệp đã cho tôi thêm tư liệu và thông tin để nhìn nhận chi tiết mối quan hệ “vừa là đồng chí vừa là anh em” rất mai mỉa này.

Với quyết tâm tìm cho ra mối quan hệ của một số loài muỗi sốt rét chính ở Việt Nam và mối tương quan dẫn truyền của nó qua biên giới Việt-Trung, tôi đã đi hàng chục chuyến công tác tại dọc tuyến biên giới Việt Trung.

Ở nhiều nơi khi tôi đến, danh nghĩa là cuộc chiến đã qua 20 năm, ký ức về sự man rợ của cuộc chiến như vừa mới hôm qua. Lần đầu đến Hà Giang, ngồi cạnh bác lái già chạy xe Hà Giang-Vị Xuyên, ông kể. “Năm 79 nó sang, dân bên mình hoàn toàn bị bất ngờ, vì thế thiệt hại là vô kể.

”Nó rút đi đặt mìn giật sập bất cứ cái gì gọi là do tay con người tạo nên. Mìn nó còn gài lại vô số trong các khu dân cư, tỉnh lộ. Mà nào có yên, pháo nó còn “củng” sang đây liên tục tới năm 88-89.

”Thằng con tôi đi củi với hai thằng bé cùng lớp bị trúng mìn. Hai đứa chết, một đứa cụt hai chân, mù mắt”. Phía Việt Nam đã hoàn toàn bị bất ngờ trong cuộc chiến 79.

”Khu vực “Hữu nghị Quan”, dân các xã xung quanh kể lại là chiều hôm trước lính Tàu còn sang đá bóng với thanh niên địa phương và lính biên phòng Việt Nam. Tối hôm đó có chiếu bóng ngoài bãi, bọn lính Tàu còn sang chơi đầy, thế mà sáng hôm sau nó tấn công.”

Nhóm nghiên cứu của tôi đã “nằm” ở Cà Liểng, nơi có hẻm núi hẹp, độc đạo, mà xe tăng Trung Quốc đã vào Việt Nam ở ngả Cao Bằng. Một cô giáo bản, dân tộc Mèo “đen” sáng hôm đó chở ông bố xuống huyện khám bệnh.

Tự dưng thấy rất nhiều xe tăng với “bộ đội” ngồi trên ở phía sau tiến tới. Ông cụ giơ tay chào nhưng sau thấy xe tăng cứ tiến sát như muốn nghiến lên chiếc xe đạp, ông kêu ầm lên để các chú “bộ đội” nghe thấy.

Đột nhiên thằng ôn vật ngồi trên tháp pháo rút súng làm đánh đùng một cái vào đầu ông cụ.

Ông cụ lăn xuống chết tức khắc, cô con gái sợ quá quăng xe đạp lao vào rừng, chạy tắt xuống huyện đội. Lúc đó người ta mới ngã ngửa ra là Tàu đánh”. Dân Thạch An, Cao Bằng mạnh ai nấy chạy, giạt hết lên núi.

Vào sâu trong rừng, người đồng bào sau đó tìm thấy những vạt rừng phủ kín quần áo, võng, bạt, vỏ đồ hộp và phân…của bọn lính sơn cước Tàu. Chúng đã ém quân từ khá lâu trước đó. Từ đỉnh núi đồng bào địa phương nhìn ngay xuống bản, thậm chí sân nhà mình. Nhiều người phải liều mạng lẻn về để lấy muối, lấy dao, quần áo…

Chiều đến họ thấy hàng chục thằng lính Tàu “vật nhau” với những chiếc xe đạp của dân bỏ lại.

Bọn lính này được tuyển mộ từ những vùng cực kì nghèo đói và lạc hậu của Hoa lục nên không biết ngay cả đi xe đạp.

Không ngạc nhiên rằng chúng hết sức tàn bạo và hung hãn. Đối với người dân tộc sống dọc các tỉnh biên giới phía Bắc, căn nhà và các vật dụng thiết thân như con dao, cái cối đá, ngọn đèn dầu là những vật vô cùng quí giá.

Nắm được tâm lí này, bọn lính Tàu được lệnh tàn phá mọi thứ dù là nhỏ nhất, trước khi rút đi.

Người dân các vùng từ Cao Bằng, Hà Giang, Lao Cai… đều kể cho tôi nghe những chi tiết khá tương tự rằng khi về lại nhà cũ, tất cả bị thiêu trụi. Những chiếc đèn dầu hỏa, vại dưa, chum nước, cối đá… đều bị đập vỡ, ngay cả những con dao bài giắt ở vách bếp cũng bị chặt vào nhau cho nát lưỡi dao, giếng nước bị sâp vì lựu đạn tống xuống.

Năm 1986, trong một chuyến thực tập hè ở Lương Sơn, Hòa Bình, tôi ở cùng những trung đoàn lính Việt nam đang tập đạn thật vì địa hình Lương Sơn tương tự Vị Xuyên, Hà Giang.

Sau một tháng họ sẽ đi Vị Xuyên. Những người lính trẻ âu lo vì những tin tức ác liệt từ Vị Xuyên và các điểm nóng khác vẫn truyền về trong suốt nhiều năm sau 1979.

Đầu năm 1988, Trung Quốc tấn công Trường Sa, 74 bộ đội Việt Nam đã bị thiệt mạng.

Năm 1995, theo anh bạn học làm kiểm dịch sinh vật, tôi lên cửa khẩu Chi Ma. Mặc dù hai nước lúc đó đã “bình thường hóa” và thông thương buôn bán nhưng những dãy đồi trùng điệp liền kề với cửa ải này vẫn dày đặc các trận địa mìn.

Xung đột lẻ tẻ trên đường biên vẫn liên tiếp xảy ra. Ban đêm, các cột mốc bị di dời vào đất Việt Nam như cơm bữa. Nhiều năm trở lại đây, trên biên giới bộ cột mốc vẫn bị di chuyển.

Trên biển, Trung Quốc nhiều lần dùng tàu chiến tấn công thuyền đánh cá và giết hại ngư dân Việt nam. Sự leo thang đã trắng trợn tới mức báo động khi Trung Quốc tuyên bố Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc huyện Tam Sa của Hải Nam cuối năm 2007, xua đuổi các công ty liên doanh thăm dò dầu khí ở vùng Nam Côn Sơn của Việt nam và vừa rồi quyết định đầu tư 29 tỷ đôla để khai thác dầu trong hải phận Việt Nam.

Tiền Việt Nam giả được in bằng những kỹ thuật tinh vi từ Trung Quốc, tràn ngập qua các ngả biên giới vào Việt Nam. In bạc giả là một loại tội phạm nghiêm trọng ở mọi quốc gia. Sản xuất tiền giả để tung vào quốc gia khác là vi phạm luật pháp và công ước quốc tế.

Chính quyền Trung Quốc hoàn toàn im lặng trước những hoạt động tội phạm quy mô lớn này. Rõ ràng sự tấn công Việt Nam bằng quân sự trên biển và đất liền, tấn công chính trị và ngoại giao, tấn công phá hoại kinh tế… kéo dài hàng chục năm sau cuộc chiến, qua nhiều đời Tổng bí thư của Trung Quốc ắt phải là mưu đồ làm cho nước láng giềng nhỏ bé phải “chảy máu” tới chết.

Người Mỹ từ lâu đã có trách nhiệm hỗ trợ rà gỡ bom mìn trong chiến tranh, sao tới nay người Trung Quốc vẫn tảng lờ những trận địa mìn nằm trên đất Việt?

Theo tính toán của Bộ Quốc Phòng Việt Nam, sẽ còn mất hàng chục năm nữa để giải phóng các trận địa mìn nằm trên đất Việt, dọc biên giới phía Bắc.

Những trái mìn Made in China đang nằm trên đất Việt chính là những bằng chứng hiển nhiên để mỗi người dân Việt nam có cơ hội để đánh giá sự thành thật, thiện chí theo phương châm “16 chữ vàng” từ phía nước láng giềng khổng lồ phía Bắc này.

Nguồn: http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2009/02/090224_sino_viet_reflection_tc2.shtml

Tại sao đảng cộng sản vẫn bảo thủ?

8 April, 2010 at 9:23 am | Posted in Uncategorized | Leave a comment


Ngô Nhân Dụng

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=111048&z=7

Cuốn Một Trăm Chuyện Ngụ Ngôn kể chuyện có một anh chăn cừu thật thà chất phác. Một hôm có một người từ thành thị tới làm quen, rồi dần dà kết bạn với anh.

Sau khi được anh tin tưởng rồi, người bạn thành phố mới nói: “Chúng ta đã làm bạn tri kỷ với nhau, không còn gì chia rẽ ta được nữa. Tôi sẽ giới thiệu cho anh một cô gái làng bên để cưới làm vợ! Anh hãy đưa tôi sính lễ tôi sẽ cưới vợ cho anh.” Người nông dân đưa cho tên bạn nhiều con cừu làm sính lễ cưới vợ. Anh thấy mình may mắn, có người sẵn lòng đi lo chuyện cưới vợ giúp mình!

Một thời gian sau, người bạn thành phố quay trở lại báo tin: Anh đã có vợ rồi! Chị ấy may mắn đã mang thai! Anh nông dân mừng rỡ, lại đưa thêm mấy món đồ quý cho người bạn thành phố để giúp anh nuôi vợ. Một thời gian sau nữa, kẻ gian thành phố trở lại, báo tin: Vợ anh đã đẻ con trai rồi! Anh chăn cừu sung sướng quá, lại đưa thêm của cải cho người bạn đem đi giúp nuôi vợ và con anh. Tháng sau, người bạn thành phố mặt mũi buồn rầu quay trở lại báo tin: “Cháu nhỏ nó chết rồi, sinh được mấy ngày đã chết.” Anh chăn cừu nghe tin đau đớn, khóc lóc thảm thiết!

Câu chuyện Mục Dương Nhân trên, chuyện số 30 trong Bách Dụ Kinh, cốt ý răn người đời không nên sống bằng ảo ảnh. Vì trên đời nhiều người cũng sống trong ảo tưởng như anh chăn cừu này. Không thiếu người cứ tưởng mình đang có vợ có con sống ở làng bên, dù chưa bao giờ gặp mặt.

Mỗi lần đọc dự thảo cương lĩnh mới của đảng Cộng Sản, không thể nào không nhớ đến anh chăn cừu trên. Bản thông cáo sau phiên họp trung ương đảng Cộng Sản chuẩn bị cho Ðại Hội Mười Một (năm 2011) vẫn khẳng định: “Ði lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta.” Cũng không khác gì người bạn thành phố bảo anh chăn cừu: Anh đã có vợ rồi, vợ anh ở làng bên đó!

Ðảng Cộng Sản đã đem Chủ Nghĩa Xã Hội giới thiệu như cô vợ đẹp, gán cho anh chăn cừu kia. Người dân trong nước ta và các đảng viên cộng sản đã phải đóng vai anh chăn cừu này, tin là vợ và con này có thật mặc dù chưa bao giờ được thấy mặt. Mọi người đã chịu cho đảng Cộng Sản lừa, trước là tự nguyện nghe theo, sau thì bất đắc dĩ, trong bụng không tin nhưng không dám cãi. Vì đã lọt vào tròng rồi, không thể nào tự cởi trói cho mình được. Cộng Sản nói, “Ði lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta,” thì chúng ta thách thức đảng Cộng Sản hãy tổ chức trưng cầu dân ý, xem có bao nhiêu phần trăm người dân muốn thực hiện chủ nghĩa xã hội?

Nhưng trước khi làm cuộc trưng cầu ý kiến đó, người dân cũng muốn mở một cuộc phỏng vấn tất cả các đồng chí trong Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản, xin hỏi các ông các bà rằng cái gọi là chủ nghĩa xã hội đó nó là cái gì? Muốn làm cái chủ nghĩa xã hội đó thì làm ra sao? Cứ để mỗi ông, mỗi bà trong Bộ Chính Trị ngồi một phòng riêng ngẫm nghĩ, có sách vở đầy đủ để nghiên cứu, rồi viết ra cho bà con coi họ hiểu cái chủ nghĩa xã hội nó như thế nào!

Nó là một ảo tưởng. Ðó là những ước mơ, mỗi người mơ một cách. Chỉ ở các nước sống dân chủ tự do mới có những đảng Xã Hội đưa ra các chương trình quản trị quốc gia mang tính chất xã hội chủ nghĩa, nhưng rất cụ thể và có giới hạn, để cho các cử tri lựa chọn, bỏ phiếu. Nếu thắng cử, họ sẽ đem ra thực hiện các chương trình đó trong thời gian được dân tín nhiệm. Còn ở các nước cộng sản, khẩu hiệu “tiến tới chủ nghĩa xã hội” chỉ có nghĩa là tất cả mọi người phải cúi đầu chịu cho đảng cộng sản cai trị; và các đảng viên thì phải cúi đầu để cho các lãnh tụ quyết định thay cho mình. Riêng đối với đảng Cộng Sản Việt Nam, kể từ khi khối Liên Sxô và Ðông Âu sụp đổ thì khẩu hiệu “Tiến tới chủ nghĩa xã hội” có hai nghĩa. Ðối với bên trong thì nghĩa là bảo vệ quyền lợi cho các đảng viên đang làm kinh tế quốc doanh, trong khi vẫn cho các đảng viên khác đi làm kinh tế thị trường để tự tư bản hóa. Ðối với bên ngoài, sau khi mất chỗ dựa vào “tổ quốc Liên Xô” của ông Lê Duẩn, thì từ thời Nguyễn Văn Linh Cộng Sản Việt Nam phải tiến tới gần, càng ngày càng gần Trung Quốc, gần đến mức bây giờ ngạt thở cũng không cởi bỏ ra được!

Cuộc họp của trung ương để chuẩn bị Ðại hội Ðảng vừa rồi lại nêu lên một khẩu hiệu vô cùng bảo thủ, phản tiến bộ, “chống đổi mới” đến cùng, đó là khẩu hiệu “Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo.” Khẩu hiệu này chứng tỏ ban lãnh đạo đảng Cộng Sản vẫn không dám buông khu vực quốc doanh ra. Ðối với họ, đó là nội dung có ý nghĩa nhất của những chữ “tiến tới chủ nghĩa xã hội!”

Tại sao đảng Cộng Sản vẫn bảo thủ như vậy? Vì nếu không bảo vệ kinh tế quốc doanh, họ sợ bị đa số chống đối. Vì trong số những ủy viên trung ương và cán bộ sẽ đi dự đại hội 11 sắp tới phần lớn hiện vẫn thủ lợi được nhờ hệ thống tổng công ty và tập đoàn kinh tế nhà nước, họ không thể rời tay được. Những đơn vị kinh tế nhà nước này không thể nào sống nổi nếu được trao cho cán bộ bằng cách tư nhân hóa; vì sau đó phải cạnh tranh trên thị trường ngang hàng với tư nhân, trong nước gọi là “giao đấu trên sân chơi bằng phẳng.” Khẩu hiệu “Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo” cốt để làm yên lòng những thành phần trên, hiện chiếm đa số trong đảng Cộng Sản. Chúng ta đều biết đây là thành phần ăn bám, ăn hại kinh tế quốc dân như thế nào.

Ngoài ra còn thành phần các đảng viên đi làm ăn riêng, góp vốn của mình mà kinh doanh, rồi thành công, thì họ cũng vẫn quen dựa vào uy quyền của đảng để thắng lợi. Ngay cả các tư nhân ngoài đảng, muốn làm ăn cũng phải đi mua chuộc thứ uy quyền này, mua lẻ bằng cách hối lộ, hoặc mua sỉ là gia nhập đảng. Ða số các doanh nhân tư đó cũng muốn bảo vệ chế độ cộng sản. Nếu bỏ mất chỗ dựa là uy quyền của đảng thì họ không thể cạnh tranh ngang hàng với các doanh nhân tư, thuần túy, ngoài đảng, trong đó có những người nước ngoài. Ðối với các người đang kinh doanh riêng, nhờ là đảng viên hay mua được đảng mới trở nên giàu có, chắc chắn họ đều muốn kéo dài tình trạng “sân chơi lệch” này! Ðã “đầu tư” nhiều vốn kiếng để tạo được chỗ dựa lấy uy quyền, tội tình gì mà gì họ phải chấp nhận “giao đấu trên sân chơi bằng phẳng” với người ngoài, để phí mất số tiền đã đầu tư? Ngay ở một nước dân chủ tự do, tôn trọng luật pháp cũng vậy. Nếu có những doanh nhân ở Mỹ đang được lợi nhờ một đạo luật ưu đãi mình (thí dụ, dành một số vụ thầu cho người gốc thiểu số) thì các doanh nhân đó cũng chỉ muốn bảo vệ đạo luật đó mãi mãi, dù nó không còn lý do tồn tại nữa. Tình trạng này không khác gì người gốc Mã Lai đang được hưởng những đặc quyền kinh tế, ưu đãi hơn các người gốc Hoa và gốc Ấn, chính phủ Mã Lai Á không thể nào xóa bỏ những đạo luật đặc quyền đó, mặc dù chúng làm cho kinh tế toàn dân phát triển chậm hơn. Ðảng Cộng Sản Việt Nam đang dựa vào những thành phần bảo thủ đó để tồn tại.

Ðó là những lý do khiến đảng Cộng Sản sẽ tiếp tục giữ lập trường bảo thủ, “đến chết cũng không chừa.” Gần đây, ông Ngụy Kinh Sinh, một nhà tranh đấu dân chủ Trung Hoa đến thăm nhật báo Người Việt. Trong cuộc nói chuyện ở tòa báo, ông Ngụy nhắc lại mấy lần rằng: Không thể nào trông đợi có chuyện đảng Cộng Sản Trung Quốc tự từ bỏ độc quyền chính trị mà họ đang nắm trong tay. Thời Ngụy Kinh Sinh còn trẻ, ông nghĩ việc đó có thể xẩy ra, cứ tranh đấu giúp đảng Cộng Sản tự cải tiến và cải cách, họ có thể sẽ biến thành một đảng chính trị bình thường, chấp nhận tranh đua bình đẳng với các đảng chính trị khác.

Nhưng sau 30 năm tranh đấu, ở trong nước rồi ở nước ngoài, bây giờ Ngụy Kinh Sinh cho đó là một ảo tưởng. Chúng ta cũng có thể tin Cộng Sản Việt Nam cũng giống như vậy. Ðám lãnh tụ nắm quyền dựa vào đám đảng viên đang giàu nhất và quyền hành mạnh nhất. Tất cả đám người đó sống bám vào cơ chế hiện tại, hoặc kiếm ăn dễ dàng nhờ cơ chế hiện tại. Họ không dại gì mà tự phá bỏ các đặc quyền, đặc lợi đang hưởng. Ông Ngụy Kinh Sinh tin rằng chế độ cộng sản ở nước ông sẽ chỉ sụp đổ khi nào người dân Trung Hoa, với sự thúc đẩy của giới trí thức và thanh niên, đứng lên đòi cộng sản phải thay đổi triệt để hơn. Một cuộc cách mạng như vậy không nhất thiết gây đổ máu. Nhưng không ai còn hy vọng chế độ cộng sản sẽ tự cải tiến để chấp nhận các luật giao đấu tự do dân chủ, trong chính trị cũng như trong kinh tế.

Người dân Trung Quốc và Việt Nam đều đã được các lãnh tụ cộng sản “cưới vợ giúp” từ hơn 70 năm nay, không khác gì anh chăn cừu trong Bách Dụ Kinh. Cô vợ hiện không biết mặt mũi ra sao đó, gọi là Chủ nghĩa Xã hội! Trung ương Ðảng Cộng Sản Việt Nam mới họp, dự thảo cương lĩnh cho Ðại hội XI của đảng vào sang năm, cho biết “Khát vọng của nhân dân ta vẫn là Tiến lên chủ nghĩa xã hội.” Như vậy Ðảng muốn chú chăn cừu vẫn phải tiếp tục tỏ ra mừng rỡ, vì được báo tin vợ con chú vẫn chưa chết!

Nhưng thử nhìn vào thực tế thì thấy, còn đảng Cộng Sản là còn bảo vệ kinh tế quốc doanh, là còn bóc lột toàn dân để nuôi mãi một đám người ăn bám. Chủ trương bảo thủ của đảng Cộng Sản chỉ có nghĩa là chủ trương tiếp tục bóc lột dân để nuôi dưỡng đảng.

Khoảng gần 100 tập đoàn công ty doanh nghiệp nhà nước này mỗi năm sử dụng hơn 50% tổng số vốn đầu tư, vì được các ngân hàng thương mại của nhà nước ưu đãi; nhưng họ chỉ sản xuất ra khoảng 30% Tổng Sản Lượng Nội Ðịa. Cứ kéo dài các đơn vị quốc doanh này tức là bắt cả nước đóng góp tiền nuôi các đảng viên cộng sản, không biết đến bao giờ mới hết nợ!

Khi nào ý thức được điều này, chú chăn cừu sẽ thức tỉnh và đặt câu hỏi: Bà vợ xã hội chủ nghĩa đâu? Mặt mũi nó thế nào? Khi đó, chú chăn cừu sẽ đứng dậy. Triệu con người không thể sống bằng ảo tưởng mãi mãi!

Cách hành xử không xứng tầm của một chính quyền – Nguyễn Ngọc Viễn Đông

7 April, 2010 at 7:39 am | Posted in Uncategorized | Leave a comment


http://www.talawas.org/?p=18551

Ngày 30 tháng 3 năm 2010, kỹ sư Neel Mehta thuộc Tổ An toàn (mạng ảo) của Google viết một thông báo trên blogspot của tổ với lời cảnh báo về một phần mềm độc đã đang xâm nhập máy tính của “hàng chục ngàn người sử dụng.” Theo ông Mehta thì phần mềm độc đó không tinh vi, tuy nhiên được dùng với mục đích gây hại. Ông cho biết “loại phần mềm gõ tiếng Việt và có lẽ phần mềm chính đáng loại khác đã bị sửa đổi để xâm nhập người sử dụng.” Những máy tính bị nhiễm độc có thể bị theo dõi và dùng vào việc tấn công phân bố từ chối dịch vụ (DDoS) nhắm vào các trang Web bất đồng chính kiến, đặc biệt là những nơi phản đối việc Trung Quốc khai thác bauxite ở Việt Nam.

Vài giờ sau đó, hãng sản xuất phần mềm bảo vệ máy tính có tên là McAfee cho biết những thủ phạm mà Google đề cập có thể có liên hệ với chính quyền cộng sản Việt Nam. McAfee đã đang điều tra phần mềm độc hại kể trên, và vị tổng trưởng kỹ thuật của hãng này, ông George Kurtz, cho biết “chúng tôi tin rằng những thủ phạm có thể có động cơ chính trị và có thể có một số sự trung thành với chính quyền Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.” Hãng này cho biết thêm, người nào đó đã “hack” (xâm nhập) vào trang Web của Hội Chuyên gia Việt Nam và tráo đổi phần mềm gõ chữ tiếng Việt VPS, có thể được tải về, với một “Trojan horse” – tên gọi dành cho chương trình gián điệp điện toán hiểm độc. Cuộc điều tra của McAfee cho thấy những máy bị nhiễm độc chịu sự điều khiển của những máy chủ hầu hết có IP từ Việt Nam trong các cuộc tấn công nhắm vào các trang Web bất đồng chính kiến với chính quyền nước này. Vậy là McAfee đã làm rõ hơn về thông báo của Google và nêu ra xét đoán của họ về thủ phạm đã tấn công các trang mạng xã hội Việt Nam trên Internet.

Ngày 3 tháng 4 năm 2010, để trả lời phóng viên của AFP (Agence France-Presse), người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam là bà Nguyễn Phương Nga cho hay việc hai công ty nói trên cho là Chính quyền Việt Nam có liên hệ với tin tặc “là những ý kiến không có cơ sở. […] Luật pháp Việt Nam có những quy định cụ thể về chống vi-rút máy tính, phần mềm gây hại và bảo đảm an toàn, bí mật thông tin.” Đó là sự phủ nhận của chính quyền cộng sản Việt Nam phản ứng sau cáo buộc của Google và McAfee. Nhưng với những câu nói hời hợt như thế thì thật khó thuyết phục lòng người nghe và đương nhiên không có sức đẩy lui nghi vấn của hai công ty danh tiếng và có uy tín trong ngành kỹ thuật thông tin điện toán.

Chính quyền Việt Nam đã thất bại trong việc biện bạch vì không hề đưa ra giải thích tại sao hầu hết những máy chủ dùng để điều khiển các cuộc tấn công phân bố từ chối dịch vụ lại có địa chỉ IP ở Việt Nam. Họ nói luật pháp của họ chống lại việc tấn công, thâm nhập, phá hoại trên mạng ảo, và bảo vệ thông tin riêng tư của người sử dụng. Nhưng thực tế họ đã không ngỏ một lời tỏ ý muốn điều tra tin tặc hay yêu cầu Google và McAfee giúp đỡ điều tra, là việc mà một chính quyền cần phải làm khi nhân dân của họ đang bị xâm hại bởi kẻ xấu trên mạng. Hoặc ngược lại, nếu một chính quyền có kiến thức quá kém về điện toán, thì ít ra họ cũng nên có lời đề nghị giúp sức cho hai công ty này ở những mặt khác trong cuộc chiến chống tội phạm điện toán. Họ cũng nên đưa ra ý định sẽ có những nỗ lực nào để hỗ trợ sự phục hồi cho những trang mạng đã bị tin tặc phá sập như bauxitevietnam.info và talawas.org, hay lập kế hoạch ngăn ngừa những vụ tấn công sau này nhắm vào các trang Web của nhân dân của họ.

Những việc vừa nêu là cách cư xử xứng tầm của một chính quyền. Nhưng chính quyền cộng sản Việt Nam đã không thực hiện được bất kỳ cái gì trong số đó; mà ngược lại họ đã tự hạ thấp mình bằng cách thờ ơ với những tai hại do tin tặc tạo ra với nhân dân của họ. Việc đó làm cho nghi vấn của Google và McAfee càng thêm vững chắc. Ở một góc nhìn nhận khác, chính quyền nước này đã tự tố cáo mình có quan hệ với tin tặc, hoặc chính họ là tin tặc.

Tài liệu tham khảo:

1. Neel Mehta, Google Security Team – The Chilling Effects of Malware, http://googleonlinesecurity.blogspot.com/2010/03/chilling-effects-of-malware.html

2. George Kurtz, McAfee’s chief technology officer – Vietnamese Speakers Targeted in Cyberattack, http://siblog.mcafee.com/cto/vietnamese-speakers-targeted-in-cyberattack

3. Nguyễn Phương Nga, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam – Những Ý kiến về Các Phần mềm Gây hại Nhằm vào Người sử dụng Máy tính có Cài đặt Tiếng Việt là Không có Cơ sở, http://www.mofa.gov.vn/vi/tt_baochi/pbnfn/ns100405185715#RdmTcd6LuU8p

© 2010 Nguyễn Ngọc Viễn Đông

© 2010 talawas

Từ vô sản cực đoan đến tư bản lưu manh

6 April, 2010 at 9:48 pm | Posted in Uncategorized | Leave a comment

Kim Tuấn & Trần Giang

Suốt hai thập niên qua, đảng và nhà nước CSVN hay ca tụng “công lao đổi mới” của họ. Sau những ngày đầu kêu gào “Đổi mới hay là chết” ở cuối thập niên 1980 và đặc biệt sau khi thoát những giây phút hiểm nghèo của ngọn gió Đông Âu nhờ loại bỏ hầu hết cơ chế kinh tế XHCN, lãnh đạo Đảng bắt đầu gắn thêm đủ loại hoa lá cành.

Cả một hệ thống 600 tờ báo, hàng trăm đài truyền hình, hàng chục triệu cuốn sách, hàng triệu những cái loa phường ra rả rỉ riết từ sáng đến tối, và hàng trăm ngàn những lớp học, những hội nghị từ cấp trung ương đến làng xã, đâu đâu họ cũng nhắc đi nhắc lại: “Đảng ta là người khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước”. Lâu dần thành quen, mọi người mặc nhiên chấp nhận nó, sử dụng nó mà không còn cần đặt dấu hỏi. Có người còn dùng nó như một dấu mốc để phân định lịch sử Việt Nam hiện đại, như “thời trước Đổi mới” để nói đến những việc trước năm 1986 hoặc “từ khi Đổi mới trở về sau này”, tức những việc từ 1986 đến nay.

Có thật lãnh đạo đảng CSVN “Đổi Mới” vì đất nước không? Có lẽ hiện thực đất nước từ năm 1986 đến nay đã đủ để trả lời câu hỏi này.

Những đổi thay dẫn đến “Đổi Mới”

Năm 1985, sau cái chết liên tiếp của 3 Tổng Bí Thư cao tuổi Brezhnev, Andropov, và Chernenko trong vòng 4 năm, đảng Cộng Sản Liên Sô gấp rút bầu một lãnh tụ trẻ trung lên thay thế. Đó là Mikhail Gorbachev. Ông Gorbachev lập tức phải đối diện với một kho dự trữ vàng trống rỗng sau gần 50 năm Liên Sô nuôi dưỡng hầu hết các phong trào và chế độ cộng sản ở khắp 5 châu. Nền kinh tế Liên Sô cũng suy kiệt vì lòng dân đã quá chán nản với những hứa hẹn và đuối sức trong các vòng kiểm soát xã hội ngặt nghèo. Ông Gorbachev không còn chọn lựa nào khác ngoài việc khởi động chính sách Glasnost để cởi trói xã hội và Perestroika để tái phối trí các ưu tiên quốc gia. Trong hệ ưu tiên này, hầu hết các viện trợ cho các phong trào và chế độ cộng sản đàn em buộc phải chấm dứt. Quyết định này gieo chấn động trên toàn thế giới, kể cả chế độ CSVN.

Vào khoảng thời gian này, ngôi nhà XHCN Việt Nam cũng đang kiệt quệ sau 10 năm san bằng giai cấp và phá hủy toàn bộ hệ thống hạ tầng kinh tế tại miền Nam. Nhiều vùng trên cả nước lâm vào nạn đói và chết đói. Có nơi kéo dài mấy năm liền. Việc Hà Nội đổ sức của sức người vào tham vọng chiếm đóng đất nước Campuchia sau khi nhân danh đánh đuổi Pol Pot và những năm tháng bị thế giới phong tỏa vì hành động đó càng đẩy nền kinh tế Việt Nam xuống đáy vực thẳm. Nguồn tài trợ từ Liên Sô của những năm đầu thập niên 1980 càng là chỗ dựa sinh tử của đảng CSVN.

Nhiều loại “Đổi Mới”

Trước quyết định cắt viện trợ bất ngờ của Gorbachev, lãnh đạo Hà Nội không có nhiều chọn lựa trong cách đối phó. Tổng Bí Thư Lê Duẫn đã chính thức cắt cầu với Trung Quốc bằng việc xâm chiếm Campuchia và kéo theo cuộc chiến dọc theo biên giới Hoa Việt từ năm 1979. Nay Hà Nội không dám công khai bất đồng hay cãi lại quan thầy duy nhất còn lại là Liên Sô. Và thế là đất nước phải đi vào giai đoạn “Đổi Mới Chờ Thời” — nghĩa là chỉ đổi mới cho có hình thức mà thôi và chờ ngày Gorbachev bị hạ bệ để rồi đâu lại hoàn đấy. Cũng như thời thập niên 1960 khi Tổng Bí Thư Krushchev đề nghị chung sống hòa bình với thế giới tư bản và cùng thi đua phát triển. Sau khi Krushchev bị hạ bệ tại Liên Sô, một số cán bộ cao và trung cấp tại Việt Nam cũng bị khép vào tội theo chủ nghĩa “Xét Lại” và bị đày ải suốt mấy chục năm liền. Tội của họ là tưởng đã có “Đổi Mới Thật” nên ra mặt ủng hộ.

Trở lại với chính sách “Đổi Mới Chờ Thời” của thời 1986, Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh bắt đầu nói đến “Cởi Trói Văn Nghệ Sĩ” nhưng vẫn cấm báo tư nhân; cho nông dân một số vùng được mượn đất tự canh tác nhưng không cho làm chủ đất; cho một số hãng xưởng ngoại quốc vào thăm dò thị trường nhưng cố tình làm cho họ nản lòng rút ra; v.v…

Chính sách lấp lửng này kéo dài đến đầu thập niên 1990 khi Gorbachev phải ra đi. Nhưng ông không ra đi một mình. Cùng đi với ông là sự xụp đổ của cả chế độ Liên Sô và hàng loạt các chế độ cộng sản tại Đông Âu. Chỉ đến lúc này, khi mọi hy vọng Liên Sô sống lại không còn nữa, các lãnh tụ tại Hà Nội mới chính thức đóng cửa chính sách “Đổi Mới Chờ Thời” và gấp rút xiết xã hội. Hầu hết các hình thức “cởi trói” về văn hóa, chính trị rềnh rang mấy năm trước, nay đều được quyết liệt nhưng im ắng “trói trở lại”. Và lần này, cũng như thời 1960, lại có một số quan chức bị trừng phạt vì tưởng đã có “Đổi Mới Thật”. Cao cấp nhất trong số bị thanh trừng, giáng chức trong đợt này phải kể đến các ủy viên Bộ Chính Trị Trần Xuân Bách và Nguyễn Cơ Thạch.

Ông Trần Xuân Bách có dịp tuyên bố trước nhiều cán bộ cao cấp thời đó: “Dân chủ không phải là ban ơn, không phải là mở rộng dân chủ hay dân chủ mở rộng”, và “Dân chủ là quyền của dân, với tư cách là người làm nên lịch sử, không phải là ban phát – do tấm lòng của người lãnh đạo này hay người lãnh đạo kia.” Ông còn khẳng định phải có dân chủ thực sự mới có thể khơi thông trí tuệ của toàn dân tộc để đưa đất nước đi lên ngang hàng với nhân loại.

Và thế là chính sách “Đổi Mới Như Cũ” chính thức bắt đầu năm 1991, với 4 đặc điểm chính sau đây:

– Lãnh đạo Đảng bóp chặt trở lại mọi mặt sinh hoạt văn hóa và chính trị. Không chỉ các tờ báo có bóng dáng độc lập như tờ Langbian bị đóng cửa mà nhiều tổng biên tập các báo chính qui cũng bị trừng phạt. Và cao điểm là Nghị Định 31/CP Quản Lý Hành Chính, cho phép giam giữ người vô thời hạn không cần xét xử.

– Lãnh đạo Đảng bỏ một phần lớn hệ thống kinh tế tập trung XHCN và xây lại nền kinh tế tư bản với tên mới: kinh tế thị trường theo định hướng XHCN. Mở cửa cho ngoại quốc vào đầu tư thật nhưng phải qua cửa ngõ các mạng lưới làm ăn của thân nhân các quan chức lớn. Cả hệ thống kiểm soát kinh tế ngặt nghèo gần nửa thế kỷ trước đó bị kết án chung là “thời bao cấp” và Đảng bắt đầu ca ngợi chính mình là nhờ Đảng mà cả nước thoát ra khỏi thời kinh tế bao cấp!

– Lãnh đạo Đảng trở lại với quan thầy Bắc Kinh và xem đó là chỗ dựa phải ôm bằng mọi giá. Cho đến nay cái giá đó bao gồm các dâng nhượng lãnh thổ, lãnh hải, quyền khai thác trên biển, khai thác trên đất liền, các báo, đài, trang mạng trên toàn quốc, và vẫn đang tiếp tục gia tăng.

– Lãnh đạo Đảng bắt đầu quay về khoác áo dân tộc, cho phép các nhân vật lịch sử của “thời phong kiến bóc lột” được đứng ngang hàng với các thần thánh và anh hùng cộng sản. Và đặc biệt hơn cả là sự ra đời bất ngờ của cả một hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, bất kể sự khẳng định ngược lại của chính tác giả khi còn sống.

Chính sách “Đổi Mới Như Cũ” này kéo dài cho đến nay.

Hậu quả của Đổi Mới

Có người đòi phải gọi là “Đổi Mới Theo Hướng Cũ” thì mới chính xác. Nghĩa là có chiều hướng muốn quay lại nhiều thời điểm quá khứ tùy theo từng lãnh vực, nhưng hầu hết các kết quả đều không trở về như cũ. Lý do là vì cách tổ chức và cách thực hiện đều theo kiểu lắp vá theo nhu cầu tại chỗ, ngắn hạn, và tùy tiện.

Chỉ cần so sánh lại nền kinh tế tại Miền Nam trước 1975 và tình trạng hiện nay như một thí dụ cũng đã đủ để minh họa hậu quả của cái gọi là “công ơn đổi mới” của lãnh đạo Đảng.

Ai cũng biết Kinh tế Thị trường đã có ở Việt Nam từ rất lâu, trước khi Đảng CSVN ra đời, và trước khi chủ nghĩa Mác Lê được nhiều người biết tới ở trời Âu!!

Đến năm 1975 thì Miền Nam Việt Nam đã xây dựng được một nền Kinh tế Thị trường lành mạnh và năng động nhất Đông Nam Á, và hơn cả Hàn Quốc lúc bấy giờ. Hàng hóa thuộc mọi lãnh vực tràn ngập thị trường, bao gồm cả hàng sản xuất trong nước và hàng nhập từ nước ngoài. Những ngôi chợ Việt Nam từ những thành phố lớn, nhỏ đến thị trấn, thị xã, xóm làng đều chất hàng cao như núi… với người mua kẻ bán chen chân. So với bây giờ thì nạn hàng giả hàng lậu rất hiếm. Người tiêu dùng không phải lo lắng nhiều. Còn chuyện thức ăn bị nhiễm hóa chất độc hại là hoàn toàn không có.

Trong lãnh vực Nông nghiệp người nông dân được làm chủ mảnh đất của mình và tự do canh tác. Trên cánh đồng và sông lạch Miền Nam từ đầu thập niên 70 đã nhan nhản máy cày, máy bơm nước, máy đuôi tôm,…

Nhưng tất cả thành quả bằng bao mồ hôi nước mắt ấy đã bị phá sạch, xóa sạch qua các đợt đổi tiền, các chiến dịch đánh tư sản mại bản, các kế hoạch xây xóa chuyển tiểu thương.

Và ngày nay, 35 năm sau, cũng mang tên là nền kinh tế thị trường nhưng người ta thấy thành phần chính được hưởng lợi ích không còn là quảng đại quần chúng. Chỉ cần nhìn vào 2 lãnh vực giáo dục và y tế đã đủ thấy:

– Tại trường học, cha mẹ học sinh phải trả hàng trăm loại lệ phí để mua chữ cho con cái. Trong lúc đó tình trạng xuống cấp giáo dục cứ gia tăng. Cảnh nữ sinh đánh nhau không kém gì nam sinh trên đường phố, cảnh trò đánh và thậm chí giết thày cô, cảnh thày cô đòi học sinh phải đóng tiền học thêm mới cho điểm cao, và khủng khiếp hơn cả, cảnh hiệu trưởng tổ chức đường mãi dâm cho học sinh… cứ nâng mức sửng sốt của xã hội lên từng tầng cao mới. Thời trước năm 1975 tại Miền Nam, dù sống trong khói lửa tứ bề vẫn không hề có tình trạng quá băng hoại như vậy.

– Tại bệnh viện ngày nay, dân chúng phải đóng các khoản viện phí đến chóng mặt: tiền thuốc, tiền giường, tiền ống tiêm, tiền dây chuyền dịch, tiền bông và thuốc sát trùng… “tất tần tật” phải trả. Bệnh nhân lại còn bị xúc phạm, hành hạ, làm khó đủ điều qua đủ loại “cò”. Nhiều trường hợp bệnh nhân bị bỏ cho chết vì không có tiền lót tay hoặc không làm hài lòng y sĩ, bác sĩ của bệnh viện. Tình trạng vệ sinh, nhất là các nhà tiêu tại các bệnh viện cho dân chúng, đều ở mức kinh hoàng. Thời trước 1975 tại Miền Nam, tuy chẳng giàu có gì và số máy móc dụng cụ cũng khá khiêm nhường, nhưng tình trạng vệ sinh vẫn đủ tiêu chuẩn tối thiểu của nhà thương và con người đối với nhau vẫn còn tính nhân bản, đặc biệt là trong đội ngũ bác sĩ, y tá.

Ngược lại, nhờ kinh tế thị trường thời nay, cả một giai cấp mới được sản sinh và tiến ra thụ hưởng hầu hết các lợi ích. Nhân dân gọi đó là Tư Bản Đỏ vì hầu hết giai cấp này đều đang nắm hoặc có liên hệ với các vị trí cao nhất trong đảng “Cộng Sản” Việt Nam, nghĩa là theo định nghĩa thì họ là những người “vô sản” nhất trong giai cấp vô sản, hay đỏ nhất trong thế giới đỏ. Các nhà “cực vô sản” này nay đã lên hàng triệu phú và tỷ phú tính bằng đô la Mỹ. Với các tường cao cửa kín, thỉnh thoảng dân chúng mới có chút khái niệm họ giàu có đến cỡ nào qua các hình ảnh nội thất của ông cựu Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu, cảnh ăn chơi của con trai trùm công an Hà Nội Nguyễn Đức Nhanh, những đoàn xe đưa dâu đón rể choáng váng cả dân chơi thế giới tại các đám cưới con cái quan lớn, như đám cưới con gái Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, v.v…. Câu hỏi khá hiển nhiên là số tài sản đó ở đâu ra nếu các “đầy tớ nhân dân” này chỉ biết phục vụ nhân dân và lãnh lương nhà nước? Còn nếu số tài sản đó đến từ các loại khoáng sản và tài nguyên thiên nhiên của quốc gia, từ các khoản tiền viện trợ cùa quốc tế cho người dân Việt Nam, hoặc từ các khoản nợ mà con cháu Việt Nam phải trả trong tương lai thì phải chăng chúng phải được trả lại cho hàng triệu gia đình vẫn còn chạy ăn từng bữa, những người già và trẻ em không nơi nương tựa lang thang đầu đường xó chợ, những cô gái phải bán thân cho Hàn Quốc, Đài Loan để nuôi gia đình?

Có thể nói hiện nay giai cấp Tư Bản Đỏ là trung tâm của xã hội. Mọi phương tiện quốc gia và nhân lực toàn quốc đều đang tập trung vào việc phục vụ họ:

– Công đoàn là phương tiện để Tư Bản Đỏ liên kết với các chủ hãng nước ngoài bóc lột hàng triệu công nhân ngay trên đất Việt.

– Luật pháp và các cơ chế ra nghị định, nghị quyết đều là phương tiện hợp thức hóa các cơ hội làm ăn của Tư Bản Đỏ, từ khai thác bô-xít Tây Nguyên đến cho thuê rừng dọc biên giới.

– Công an và quân đội là phương tiện trấn áp dân chúng khi Tư Bản Đỏ cần giải phóng mặt bằng, chiếm hữu đất đai để bán cho công ty nước ngoài.

– Báo chí là phương tiện ca tụng các thành công của Tư Bản Đỏ và khỏa lấp các kêu ca, khuyên can về các tác hại môi sinh.

– Trong khi đó nhiều tầng lớp nhân dân tranh nhau xin phục vụ Tư Bản Đỏ — từ các người làm kẻ ở trong nhà; đến các tài xế, bảo vệ quanh sân; từ các bác sĩ thầy thuốc riêng chăm sóc sức khỏe đến người mẫu chân dài cung phụng nhu cầu.

Rõ ràng cả một giai cấp đang ngang nhiên trấn lột cả nước, ngang nhiên tiêu xài tiền của đó ngay trước mắt các nạn nhân, và quái lạ hơn nữa là nhân dân cả nước đang ra sức phục vụ họ. Với hiện tượng đó, có lẽ thành quả lớn nhất của chính sách Đổi Mới sau hai thập niên là: lãnh đạo Đảng CSVN đã chuyển hóa vô cùng thành công giai cấp vô sản cực đoan thành những nhà tư bản lưu manh!


Hen voi Giac – Ac voi Dan
Hoang Sa Truong Sa la cua Viet Nam
No China – No Boxit

RadioCTM phỏng vấn ông Vũ Quí Hạo Nhiên về sự phát triển của phong trào dân báo Việt Nam

2 April, 2010 at 9:17 am | Posted in Uncategorized | Leave a comment

Ngọc Kim thực hiện

http://radiochantroimoi.wordpress.com

Các bạn thân mến, ngày 12-3-2010 vừa qua đã được Tổ chức Phóng viên Không Biên Giới RSF, có trụ sở tại Pháp chọn là “Ngày Thế Giới Chống Kiểm Soát Internet”. Và đi xa hơn nữa, một tổ chức bất vụ lợi về truyền thông mạng đặt tại Mã Lai có tên là South East Asian Center for eMedia, viết tắt là Seacem, tạm dịch là Trung tâm Truyền Thông Mạng Đông Nam Á, vừa tuyên bố rằng nếu blogger tại Việt Nam gặp khó khăn, thì hãy đến với họ để nhận trợ giúp.

Ông Sean Ang, Giám đốc điều hành Seacem, cho biết họ sẽ giúp đỡ truyền thông độc lập, huấn luyện cho blogger và các nhà báo công dân. Seacem sẽ giúp các blogger tìm hiểu về các kỹ thuật làm thế nào để tránh sự phát hiện của chính phủ, xây dựng các liên minh, và tìm kiếm sự hỗ trợ của quốc tế.

Ông Sean Ang cho biết: Chúng tôi giúp các bloggers bảo vệ chính kiến của họ, vì hiện nay vẫn còn những chủ đề cấm đoán mà các blogger không được đụng tới – như quảng bá các ý tưởng tự do, dân chủ, đa đảng – cũng như bị nhà cầm VN cho rằng các blogger thách thức quyền lãnh đạo của họ.

Để chúng ta có dịp tìm hiểu sâu rộng hơn về phong trào dân báo đang nở rộ tại VN trong thời gian vài năm qua, Kim đã mời được ông Vũ Quí Hạo Nhiên, hiện là tổng thư kỳ nhật báo Người Việt, là một trong những tờ báo lớn nhất tại Nam California, và có lẽ cũng là tở báo lớn nhất của cộng đồng Việt Nam Hải ngoại hiện nay. Kim xin mời anh Hạo Nhiên.

Vũ Quí Hạo Nhiên: Xin chào Kim và chào quí thính giả của đài Chân Trời Mới.

Ngọc Kim: Kim rất hân hạnh được tiếp xúc với anh Hạo Nhiên trong chương trình hôm nay. Thưa anh, như Kim vừa trình bày, xin anh cho biết sự phát triển của phong trào dân báo trên thế giới như thế nào? Vị thế của nó ra sao so với các phương tiện truyền thông thông thường khác như báo giấy, truyền thông, truyền hình?

Vũ Quí Hạo Nhiên: Phong trào viết dân báo hay viết blog nở rộ ở khắp mọi nơi, không chỉ riêng gì ở Việt Nam hay ở Trung Quốc hay là những nơi mình thường nghe nói tới trên đài tin tức. Như ngay ở Mỹ chẳng hạn, cũng có rất nhiều nguồn tin lấy được từ blog, thí dụ như có một blog rất nổi tiếng về chính trị như Politico.com. Đó cũng là một blog do nhiều người viết. Nó không phải là truyền thông theo nghĩa “traditional”, theo xưa nay vẫn nghĩ như là báo mạng, truyền hình, truyền thanh, v.v… Blog khác với báo mạng là nó không có một cơ cấu tòa soạn như là một tờ báo điện tử khác và cách người ta viết cũng khác. Cách người ta viết có tính cách cá nhân hơn, cho nên người ta mới gọi là dân báo. Tiếng Anh có chữ “citizen journalism”, là báo chí do người công dân làm ra. Người nào thì cũng là công dân, cho nên khi dùng chữ công dân đó, người ta có ý nhấn mạnh là người ta thể hiện cái quyền công dân và bổn phận công dân của người viết blog.

Ngọc Kim: Xin anh cho biết cộng đồng VN, nhất là ở hải ngoại đã đón nhận phong trào dân báo ra sao cũng như là trong nước đã tham gia vào phong trào dân báo như thế nào?

Vũ Quí Hạo Nhiên: Ở hải ngoại thì việc viết blog không nở rộ như trong nước. Trong nước người ta viết blog rất nhiều với nhiều đề tài khác nhau. Mình hay nghe nói blog về chính trị, nhưng không phải blog nào cũng về chính trị. Có rất nhiều blog có những đề tài về kinh tế, ca nhạc, văn nghệ, văn học. Nhưng blog chính trị cũng được chú ý nhiều là vì nó bị cấm, và chính vì bị cấm nên người ta chú ý. Lý do bị cấm là vì nó nói lên những điều mà báo chí truyền thống ở trong nước không nói lên được. Cũng một người đó viết cho tờ báo thì phải viết theo đúng giới hạn của chính quyền; sau đó về nhà thì người này viết blog, viết ra những sự thật mà không được nói tới.

Ngọc Kim: Theo anh nhận xét thì phong trào dân báo có đem đến những thay đổi gì cho người Việt trong nước, nói đúng hơn là cho các bạn trẻ và cộng đồng trí thức ở VN?

Vũ Quí Hạo Nhiên: Phong trào viết blog đem đến một thay đổi lớn nhất, là đem đến một luồng thông tin mà không tìm thấy ở chỗ khác. Người ta có thể vào xem báo chí truyền thống, báo chỉ hải ngoại, ví dụ như trang web của đài BBC tuy không bị chặn ở Việt Nam, nhưng ngay cả trang web BBC cũng có giới hạn là về nhân lực. Cũng chỉ có chừng ấy người nên cũng chỉ có thể đưa được chừng ấy tin. Trong khi đó thế giới blog thì bất cứ ai cũng có thể viết một cái blog, bất cứ ai cũng có thể làm một người viết dân báo cho nên nó có thể có một ngàn người cùng nói, cùng làm; cho nên có những nguồn thông tin nếu mà không có blog thì người ta đã không được nghe thấy.

Đừng nói chi đến người trẻ, mình có thể nhìn một tấm gương là ông nhạc sĩ Tô Hải. Cuốn sách hồi ký “Một thằng hèn” của nhạc sĩ Tô Hải là gom góp những bài ông viết trên blog của ông. Đó là những luồng kiến thức về thời một ngàn chín trăm bốn mươi mấy, năm mươi mấy, sáu mươi mấy, bảy mươi mấy ở miền Bắc cũng như ở trong miền Nam sau này. Nếu mà không có cái blog của nhạc sĩ Tô Hải thì sẽ không có ai biết được chuyện đó. Thế hệ sau không biết thế hệ trước ra làm sao, mà ngay cả nhạc sĩ Tô Hải cũng viết luôn cả những việc đang xảy ra bây giờ: Một ông cụ bảy mươi mấy, gần tám mươi tuổi, đi tham gia biểu tình chống Trung Quốc bị công an chận lại ra làm sao; ông chứng kiến những bạn trẻ bị công an ngăn chận ra làm sao… Đó là những luồng thông tin mà nếu không có blog thì không ai có được.

Ngọc Kim: Phải nói dân báo là một trong những phương tiện đấu tranh trong thời đại mới mà các nhà dân chủ và rất nhiều các phong trào dân chủ trên thế giới đã dùng trong công cuộc đấu tranh của họ. Xin anh cho biết nó đã ảnh hưởng đến các phong trào đấu tranh tại VN như thế nào?

Vũ Quí Hạo Nhiên: Phải nói là phong trào đấu tranh bằng blog ở Việt Nam là một trong hai phong trào đấu tranh được thế giới quan tâm nhất. Đây là nói riêng về vấn đề blog; Việt Nam là một, Iran là hai. Hai nơi mà vì chính quyền giới hạn thông tin cho nên người dân dùng internet, dùng dân báo, dùng blog để làm phương tiện chuyển tải thông tin đến cho nhau, cũng như cho thế giới bên ngoài biết. Cho nên không lạ gì khi mà Liên Hiệp Quốc muốn đưa ra một trường hợp điển hình về một blogger bị đàn áp thì người ta nghĩ ngay đến một blogger Việt Nam là anh Điếu Cày. Điếu đó chứng tỏ rằng không những ở trong nước [VN] nghĩ rằng blog là một phương tiện đấu tranh lợi hại, mà cả thế giới cũng nhìn thấy điều đó và người ta thấy rõ ràng nhất là ở Iran và ở Việt Nam.

Riêng ở Việt Nam mình có thể nhớ lại rằng ngày xưa vào tháng 12 năm 2007, khi mà thanh niên sinh viên xuống đường phản đối Trung Quốc âm mưu lập ra huyện Tam Sa để cai trị vĩnh viễn quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Những lời kêu gọi biểu tình đó đến từ các blogger, một người nói rồi lan ra thành mười người, lan ra thành trăm, lan ra thành ngàn. Đó là một thí dụ. Một thí dụ nữa là vụ nhà văn Trần Khải Thanh Thủy bị vu cáo cho tội đánh người. Bên phía công an công bố ra một tấm hình của một người gọi là nạn nhân của hai vợ chồng nhà văn Trần Khải Thanh Thủy. Nhưng mà chính các bloggers là những người đã lấy tấm hình đó đưa vào phân tích và cho thấy rõ đây là một tấm hình đã bị chỉnh sửa bằng photoshop. Đó là tấm hình giả mạo do công an đưa ra và được các báo chí đăng lại.

Thành ra ảnh hưởng của blogger rất là cao và tầm lợi hại rất là lớn, vì đảng Cộng Sản có thể đấu với một đảng đối lập, hai đảng đối lập hoặc là mười đảng đối lập. Nhưng không thể nào mà một đảng cộng sản có thế đấu lại được với 80 triệu người dân Việt Nam. Trong đó cứ lấy rẻ là có 800 ngàn người viết blog, là một phần trăm; hay là lấy rẻ nữa đi, là 8 ngàn người viết blog không thôi, là đảng cộng sản không thể nào bịt miệng, bịt tai, bịt mắt tất cả những người đó được.

Ngọc Kim: Và họ cũng sẽ không bao giờ kiểm soát được hết tất cả các blog đó được phải không anh?

Vũ Quí Hạo Nhiên: Họ sẽ cố gắng kiểm soát những blog mà họ kiểm soát được. Thí dụ như trường hợp nhà báo Huy Đức với trang blog Osin, một trang blog không hề đụng chạm gì về đến quyền lợi của đảng Cộng Sản. Trang blog Osin không hề đòi hỏi đa nguyên đa đảng, không hề đòi hỏi bỏ điều 4 hiến pháp, không hề đòi hỏi đảng cộng sản làm gì khác ngoại trừ đừng tham nhũng và làm kinh tế có hiệu quả. Chỉ có vậy thôi mà họ đã chặn trang blog đó, họ hack vô rồi phá. Họ muốn phá lắm. Ai họ phá được thì họ phá, nhưng mà không cách nào họ phá được. Đảng cộng sản dù quyền lực đến đâu cũng không thể nào chặn được hàng ngàn, hàng chục ngàn trang blog.

Ngọc Kim: Dạ vâng, thưa anh, với tư cách là một người làm báo lâu năm, anh có lời khuyên gì cho những nhà dân báo không?

Vũ Quí Hạo Nhiên: Tôi sống ở Mỹ thì tôi cũng không dám bạo gan đi khuyên những người viết blog ở Việt Nam nên làm thế này hay nên làm thế kia. Nếu tôi làm như thế thì có vẻ như tôi quá đáng. Nhưng nếu Kim hỏi riêng về vấn đề chuyên môn thì có những chuyện có thể làm cho những trang blog mình ăn khách hơn, như cách đặt tựa hay nên có hình ảnh, nên có âm thanh, nên có video, những cái đó với trang như wordpress.com chẳng hạn. Với trang này mình có thể tải về các application, những plug-in miễn phí để có thêm slide show, có thêm audio, có thể dùng youtube để có thêm video… Những chuyện kỹ thuật như thế thì tôi cũng có thể góp ý được nên có hình ảnh sao cho bắt mắt v.v… Nhưng riêng về lối hành xử làm sao trong một xã hội mà đang bị đảng cộng sản kiểm soát và soi mói rất là kỹ càng thì tôi không dám khuyên gì cả. Vì họ biết rành hơn tôi nhiều.

Ngọc Kim: Cám ơn anh. Được biết anh cũng là một nhà dân báo với trang facebook cũng như một trang mạng khác. Nếu các bạn nghe đài muốn liên lạc với anh, hoặc muốn vào trang blog của anh thì họ có thể liên lạc với anh bằng cách nào? Xin anh cho địa chỉ.

Vũ Quí Hạo Nhiên: Ngày xưa thì tôi có trang blog trên yahoo360. Khi mà yahoo đóng dịch vụ 360 thì tôi chuyển tất cả bài vở và comment qua trang Multiply, nhưng tôi chỉ chuyển qua thôi chứ tôi không viết trang blog đó nữa. Tôi có một trang blog tiếng Anh chuyên đề về cộng đồng Việt Nam ở Hoa Kỳ. Trang blog đó tên là Bolsavik.com. Tôi rấy vui vẻ được tất cả những bạn bè trong nước và những người chưa quen liên lạc qua trang blog thì tôi rất là vui.

Ngọc Kim: Kim thành thật cảm ơn anh Hạo Nhiên đã dành cho chương trình chúng tôi buổi phỏng vấn hôm nay. Các bạn thân mến, phong trào dân báo đã đem đến cho các bạn những thay đổi gì? Kim rất mong được nghe ý kiến của các bạn, xin các bạn thư về cho Kim qua địa chỉ lienlac@radiochantroimoi.com.

Kim thân mến chào các bạn, xin chúc các bạn một ngày thật vui và hẹn gặp lại các bạn trong lần phát thanh tới.

Hen voi Giac – Ac voi Dan
Hoang Sa Truong Sa la cua Viet Nam
No China – No Boxit

Điệu Vũ Thoát Y Của Nàng CAM

31 March, 2010 at 9:10 am | Posted in Uncategorized | Leave a comment

Blogger Đinh Tấn Lực

http://viettan.org/spip.php?article9679

Ban biên tập web VT: Tiết mục “Làng Dân Báo” sẽ giới thiệu thường xuyên đến quý độc giả những bài viết đa dạng từ các cây viết bloggers. Đây là những trăn trở chân thực và “ngoài luồng” của quần chúng Việt Nam.

Xin giới thiệu đến quý độc giả bài viết “Điệu Vũ Thoát Y Của Nàng CAM” của blogger Đinh Tấn Lực:

http://dinhtanluc.multiply.com/journal/item/538/538


Vâng, nàng họ Lò.

Không, nàng không có dây mơ rễ má gì với nhà thơ Lò Ngân Sủn nổi cồn nhờ mấy tứ thơ nhiệt độ: “Người đẹp trông như tuyết / Chạm vào lại thấy nóng…”.

Cũng không, nàng không dính vào chi hệ muống cà nào với thi sĩ quỳ Lò Pánh Cương, bất luận các điểm trùng hợp về tư thế.

Lại càng chẳng liên hệ gì tới tác giả Lò Mai Cương của quyển Hướng Dẫn Ghép Vần Chữ Thái. Nàng không nhiều chữ đến thế. Chỉ đôi ba lá cải là cạn. Nhưng làm ơn đừng vội nghĩ tới tác giả Sợi Xích trơn tuột. Không thể so lá cải với lá đa. Đó là một liên tưởng thiếu công bằng.

Vẫn không, phả hệ của nàng hoàn toàn khác tông, khác chi với các đại biểu quốc hội Lò Thị Phương/Lò Văn Muôn, hoặc các đồng chí có cùng họ hiện là tỉnh/huyện ủy hay chủ nhiệm ủy ban các thứ ở Lai Châu/Điện Biên/Hòa Bình/Sơn La, đặc biệt là ở Mường Lò, Yên Bái, có đỉnh PhanXiPăng cao nhất Đông Dương và có lời thơ mời gọi thiết tha: “Khi đi qua đèo Ách cửa Nhì / Khi đã nghe tiếng rừng gió hút / Anh có vào Nghĩa Lộ với em không?”… Không, nàng chưa đủ trình độ, cả thơ văn cởi nút lẫn chính trị khấu đầu, cho dù hai bên cùng có một vài điểm chung nào đó ở phong cách. Riêng nàng, cả đời chỉ biết khép mắt tuân phục.

Cũng lầm nốt, nàng không hề dính líu máu mủ gen giếc gì với đồng chí Bua-xỉ Lò Văn Xay, Chủ nhiệm ủy ban kinh tế- tài chính và ngân sách của quốc hội Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.

Vâng, CAM chỉ là nick trên mạng. Tên khai sinh của nàng là Lò Côn Đồ.

Khai sinh của nàng không ghi tên cha. Nàng chỉ nhớ mang máng, và tùy thời tùy lúc mà trả lời: Cha nàng có khi mang họ Nguyễn Khoa, có khi lại là Tô Huy, chẳng biết chỗ nào lần. Mà cũng chẳng một ai biết đích xác là nàng có cả thảy bao nhiêu cha già/cha trẻ/cha non, cả bên này lẫn bên kia thác Bản Giốc vừa mất một nửa…

Còn về phả hệ phía bên mẹ nàng, thì, ngạc nhiên chửa, lại đích xác như chuẩn vàng bốn số chín, là bắt nguồn từ Trung Nam Hải. Cái chỗ mà đám tư bản Google vừa rồi mới cung tay rút chân gây sự, để trả đũa vụ tin tặc tàu len lỏi vào ăn cắp mật khẩu và dữ kiện nhiều trương mục/tài khoản email của các nhân vật chủ trương dân chủ hóa Trung Quốc.

Vâng, đúng là chỗ duy nhất trên mặt đất này có trường đào tạo tin tặc chính quy được nuôi bằng tiền thuế của dân để phá bỉnh cộng đồng cư dân mạng đấy!

Và cũng đúng luôn, đó là chỗ mà cơ quan tình báo Anh M15 báo động về trường hợp các đại công ty thương mại Anh Quốc hoạt động tại Hoa Lục đã bị tin tặc tàu xâm nhập máy chủ và ăn cắp dữ liệu mật về sản xuất hay mua bán.

Lại đúng nốt, đó là chỗ mà công ty đăng ký tên miền lớn nhất thế giới Go Daddy mới vừa quyết định chính thức chấm dứt các dịch vụ cung cấp tên miền có đuôi .cn (china), vì “không muốn trở thành tình báo cho chính quyền Trung Quốc”.

Hãy nói về điệu vũ thoát y à? Sốt ruột rồi chăng?

Vâng, thì chìu bạn vậy! Sự cố là vầy:

2010 đánh dấu 1000 năm Thăng Long, cũng là dịp kỷ niệm hoành tráng 60 năm hữu nghị răng môi trôi rừng dạt đảo với TQ.

Trong tiến trình chuẩn bị sao cho trọng thị và an toàn, kể từ nửa cuối năm rồi, CAM đã đội lốt tin tặc, tự mình ra sức quậy phá/ nhũng nhiễu hàng loạt các trang mạng VN từng nổi tiếng tôn trọng sự thật, tôn trọng thông tin/dư luận đa chiều, hoặc tôn trọng sự khác biệt.

Chính sách lớn của trên là: Không tiện cấm/không thể cấm/không dám cấm, hoặc cấm không được, thì …phá. Không thể đưa ra tòa được thì …đánh lén. Không biện luận nổi bằng lời thì …xử lý bằng đường đạo tặc. Đáng kể nhất là các trang nhà, từ diện cá nhân như HaSiPhu.com, BlogOsin… cho tới diện diễn đàn/cộng đồng như Đối thoại, Talawas, BauxiteVN, Chân trời mới, Việt Tân, Đàn Chim Việt…

Từ bịt mồm tới bịt mạng, nàng CAM quyết chí tuân thủ tiến hành một kế hoạch thực thi chủ trương lớn: “Lò Côn Đồ ra tay Khủng Bố Trắng”.
Nghĩa là núp ló đằng sau các lá chắn “bảo vệ XHCN”, “ổn định chính trị”… để phá hoại/triệt hạ/tận diệt tài sản trí tuệ của tầng lớp nguyên khí quốc gia.

Hàm cá mập đỏ tươi tanh máu,
Mắt sói lang hau háu tìm mồi.
Hắc-cơ tin tặc nghề bồi,
Ra công tôi mọi, điều tồi rắc gieo
…”. (blogger Trung Hoàng?)

Xui sao, bao nhiêu hướng tấn công có chỉ đạo, cả vào người lẫn vào máy, đều không đánh sập được BauxiteVN, mà còn khiến cho cộng đồng mạng vỗ tay ăn mừng có thêm nhiều trang (web/blog) BoxitVN khác, kể cả những trang backup tự nguyện của độc giả.

Vâng, bạn chỉ được cái …nói đúng! Nếu CAM, và cả giuộc nhà CAM từ trên đỉnh chóp xuống tận thôn ấp… chỉ ngu thôi mà đừng tham thì làm cóc gì đến nỗi hỏng hóc cả “đại sự”. Mà biết đâu, chính cái đặc tính “chỉ biết ngu thôi chẳng biết gì” đó đã bôi trơn cho cái tính tham?

Tin tặc CAM ta đã xong nhiệm vụ đối với các trang mạng Dân Luận và X-cà, bỗng như trúng số cá cặp, vớ phải cái danh sách thành viên có cả mật khẩu của X-cà. Thế là máu hình sự trong một bộ phận hạ tầng của Lò Côn Đồ bỗng dưng rần rật tựa các giòng thác kách mệnh tranh nhau chảy dồn 3-trong-1.

Kết quả là, theo sát chỉ đạo của trên, một loạt bài “bịa-đặt-lắp-ghép-sự” hoành tráng về các thành viên cốt lõi của X-cà, cứ như phim bộ giả tưởng, mỗi ngày một tập, được CAM úp lên từng đợt. Từ các nhân sự bên trong như Hoàng Ngọc Diêu tới bên ngoài như Hoàng Ngọc Tuấn. Từ Lã Quốc Việt tới Nguyễn Công Huân. Từ Mạc Điền tới Phạm Thắng. Cả các bạn độc giả Người Buôn Gió, Mẹ Nấm… và còn nữa…

Căn nhà Bảo Vệ Thành Trì bỗng dưng được cơi nới thêm một tầng thượng vừa mới chiếm đoạt của X-cà.

Tay trái của CAM nhắp chuột hắc-cơ, còn tay phải của CAM bấy giờ cầm bút, loại xịn ngang tầm an ninh thế giới chứ chẳng đùa, công khai cạnh tranh mặt hàng với cả các bậc đàn anh du thủ như phong/vô liêm hữu ước…

Những “bịa-đặt-lắp-ghép-sự” này đang là niềm hãnh diện tột cùng của Lò Côn Đồ, về quy trình chui sâu nằm lâu trong máy vi tính các đương sự để lục lọi; hãnh diện về công trạng nhũng nhiễu/khảo tra/thẩm vấn/lấy cung họ bằng kỹ xảo “CAM đây biết cả đường đi lối về…”; lại hãnh diện về cả đặc tính xây dựng/lắp ráp các tình tiết thực hư trộn lẫn có thể giúp cho “pháp luật” nhà nước ta làm bằng để bắt bớ/sách nhiễu/truy tố đối với những nhân vật mà nó bịa-đặt-lắp-ghép chi tiết đời tư thật giả của họ thành các thứ “chân dung”, “diện mạo”…

Ngay cả blogger AnhbaSG, chưa hẳn đã có quan hệ gì tới X-cà, mà vẫn phải nuôi muỗi mấy đêm tại “cơ quan hữu trách” (đang lùng sục cái Câu lạc bộ Dân báo ngang tàng ngạo nghễ) nữa kia!

Đó chẳng phải là kế sách “sát kê hách hầu”, giết gà dọa khỉ, mà tổ mẫu Lò Côn Đồ ở Trung Nam Hải đã từng truyền dạy đấy ru?

Ở đoạn cuối của video clip “bịa-đặt-lắp-ghép” này là một hình ảnh bi hùng đến khó quên: Tay trái của CAM nắm lấy tay phải chính mình mà giơ ra ánh sáng: Đây này, đây mới chính thực là CAM hiển hách đang bảo vệ an ninh toàn cõi đây này! Đồng bào đã thấy rõ chưa?

Vâng, rõ lắm! Lò Côn Đồ đã cạnh tranh thương hiệu với các nữ sinh thủ đô đánh ghen, tự lột trần lột truồng giữa chợ, và cho phép đạo diễn có chỉ đạo tổ chức quay phim cấp ba chính mình ở dạng HD-1080 để úp lên mạng như thế thì còn chỗ nào mà không rõ?

Rõ nỡm! Rõ tởm!

Chỉ tiếc là khúc phim điệu vũ thoát y nhại kiểu múa Xòe pha múa Sạp trên biên dưới diễn của CAM chưa được vận động đúng mức để dự giải cánh diều.

Sao à? Người ta sẽ truy tìm xem động cơ lén lút ăn cắp đồ và công khai khoe tang vật chứ sao nữa!

Vâng. Đúng đấy! Đến lúc dân thôi sợ thì chính là thời đảng sợ. Hãy nhìn cách phản công thụ động của nhà nước ta qua điệu vũ trần truồng trơ trọi của Lò Côn Đồ, khắc biết.

Biện pháp tình thế “đổi mới” từ luật rừng sang võ rừng đã hiển thị rõ nét trên màn hình lớn cả nước đều thấy là Đảng và nhà nước ta đang chạy vạy (và chật vật) phô trương một cơn hãi giữa cơn nguy:

Một là việc trình làng Sự Thật và rọi đèn các vấn đề bức xúc trong xã hội ngày càng tỏa rộng ra nhiều lãnh vực, nhưng lại tập trung mọi luận cứ vào điểm cốt lõi trước giờ chưa từng thấy, là yếu tố truy nguyên trách nhiệm làm đất nước phá sản, cùng thách thức tính đại diện hợp pháp của đảng và nhà nước. Nói túm gọn: Cái thời của đảng đã qua rồi! Chí ít, cái quỹ thời gian của đảng đã cạn rồi!

Hai là vào thời đại A-còng này, thủ thuật Goebbels (láo hoài/láo mãi/láo lấy được) của Nazi hồi giữa thế kỷ trước không còn chút hiệu nghiệm nào trước cây đũa thần Google ngày nay. Câu châm ngôn thế kỷ chết tiệt “Cái gì chưa rõ thì tra Google” đã khiến cho đảng và nhà nước hết bề che dấu/bưng bít/nhận chìm mọi sai trái như đã từng quen làm trước đây. Điều này cũng khiến xuất hiện một tầng lớp không ít người ngậm ngùi chua xót cho công lao hãn mã cả đời cống hiến cho một thiểu số toàn quyền làm điều sai trái.

Ba là, bên cạnh Google chữ/Google ảnh/Google chuyển ngữ/Google bản đồ… lại còn có Youtube với đầy đủ những đoạn phim rất thật, rất “nhạy cảm”, từ trác táng/tham ô/biển thủ/rút ruột/hối lộ/hà hiếp/đánh dân… cho tới các trận chiến lịch sử… cộng thêm những lời bình sát sườn trao đổi qua lại trên Facebook và các trang mạng xã hội khác. Tất cả đều nằm ngoài mọi dự phóng/viễn kiến/đối phó của đảng và nhà nước.

Bốn là không phải đột nhiên mà “triệu hoa đua nở” đợt này bao gồm cả những trang Dân lên tiếng, Tiếng dân kêu… với hàng núi hồ sơ oan ức; những trang Giáo sư dỏm bêu ra làng nước tình trạng phẩm hàm bất xứng của hàng công bộc chế độ; trang Nókìa với hàng trăm hình ảnh cơ ngơi đồ sộ huy hoàng của các quan tham khắp nước do dân chụp được… Biện giải sao đây trước những sự thật không thể thật hơn này?

Năm là tường lửa của đảng không rào được những cộng đồng webs và blogs trong tình hình ban tuyên giáo TW và bộ 4Tờ đuối sức/cạn ý/đứt hơi/tắt tiếng về việc huy động làng báo chính quy phản pháo. Cả đảng, có lúc phải dùng cả còi hụ hú triết gia, mà cũng không biện giải nổi đặc tính câm ngoài/quát trong, hay hèn với giặc/ác với dân.

Sáu là ngược lại, các ký giả trong làng báo chính quy ngày càng tinh tế hơn trong những bản tin/bình luận khéo léo vượt ngưỡng mà nhà nước bó tay, và ngày càng nhiều những phóng viên làng báo chính quy tạo nick viết blog (hấp dẫn và đầy đủ chi tiết hơn). Lại còn thêm tình trạng tán phát qua email đều khắp, kể cả các tòa soạn chính quy và phòng sở 4Tờ ở các địa phương cũng nhận hay chờ nhận thường xuyên. Thì không phải báo giấy mạt vận rồi đó sao?

Bảy là, ngay cả báo Tia Sáng (bị đình bản online) hay BauxiteVN… tự thân cũng không chắc đã từng nghĩ đến/nghĩ ra một cách chiêu khách/tiếp thị nào hay hơn là cách quảng cáo hữu hiệu tuyệt vời của Lò Côn Đồ (riêng trang Dân Luận đạt mức kỷ lục 2157 lượt người vào đọc cùng lúc trong một ngày bình thường hồi cuối tháng 2, sau đợt tin tặc tấn công).

Tám là đảng và nhà nước không còn giữ nổi hình ảnh/huyền thoại ba đầu sáu tay/công to tựa núi Nùng/đức sâu như sông Nhị… như đã từng dồn sức tuyên truyền hằng nửa thế kỷ trước đây, mà nay, không chối cãi hay photoshop nổi bức chân dung tự họa một kẻ tứ chi tàn phế/gan ruột lên dòi… nhưng vẫn câng câng bộ mặt tham quyền chăm chăm nhìn chân ghế.

Chín là, đảng và nhà nước đã cất công, qua Lò Côn Đồ, đã chính danh công khai hóa và giúp cho hàng loạt những người đấu tranh dưới nick lần lượt vượt qua giai đoạn ẩn danh trên môi trường ảo mà đường hoàng thõng tay vào chợ, khoác áo xuống đường. Đội ngũ này ngày càng đông và ngày càng gắn bó với nhau. Cứ xét tình hình bằng hữu xôn xao tiếp ứng trong mấy ngày bạn Phạm Hồng Sơn bị vây tại nhà ngoài Hà Nội, hoặc Người Buôn Gió hay AnhbaSG (kẻ trước người sau) bị làm khó dễ ở Sài Gòn thì rõ.

Sau cùng, điều đáng sợ nhất của đảng và nhà nước CSVN là ở điểm hội tụ trước giờ chưa từng có trong đại khối nhân dân Việt Nam. Đó chính là 5 đặc tính và 4 quy luật của đấu tranh bất bạo động. Ngày càng có nhiều người tìm hiểu/bàn bạc/chia sẻ về nó, kể cả đảng viên CS. Ngày càng có thêm nhiều tổ chức đồng thuận/ủng hộ/theo đuổi nó, cả trong lẫn ngoài nước. Người ta truyền tai nhau một điều đã thấy rõ: Quyền lực không do thượng đế đặc ân cho bất kỳ ai, mà do chính nhân dân cung cấp. Nếu nhân dân đồng lòng rút lại lòng trung thành và ý tuân thủ, không một kẻ độc tài nào còn quyền thống trị. Các cuộc cách mạng màu gần đây nhất đã đồng loạt chứng minh điều đó.

Ôi, thời toàn trị nay còn đâu? Không hãi đến vãi mà được sao?

Ôi, ngàn năm Thăng Long! Lẽ nào đánh dấu cả thời mạt đảng?

Chỉ thương cho mỗi nàng CAM, công quả chả bao nhiêu, bổng lộc chẳng đáng gì, cũng không thể níu kéo được bao nả trước ngày tàn của chế độ, mà phải chịu cảnh suốt đời lăn tăn không cách gì rửa sạch vết nhơ khỏa thân tiếp tay cho bạo ngược, cho đến ngày cả nước cùng “mổ trâu đen/rắc giấy vàng tiễn biệt”.

28-3-2010 – nhân ngày khai mạc Hội thi Tin học trẻ VN
Blogger Đinh Tấn Lực

Hữu Loan và… Tôi

30 March, 2010 at 9:20 am | Posted in Uncategorized | Leave a comment

Hồng Thuận

Tựa đề bài viết này khiến nguời đọc dễ lầm tưởng rằng, nhà thơ Hữu Loan và tôi là bạn đồng trang lứa, hoặc có mối giao tình với nhau, hay ít ra là có quen biết nhau,… Không, hoàn toàn không phải vậy. Nhà thơ Hữu Loan sinh trước tôi gần 3 phần tư thế kỷ lận… Thực ra, tôi biết đến tên nhà thơ lớn này vào lúc tôi khoảng 7, 8 tuổi qua bản nhạc được nhạc sĩ Dzũng Chinh phổ nhạc bài thơ nổi tiếng “Màu Tím Hoa Sim” của ông. Tóm lại, tôi biết về thơ được phổ nhạc của ông trước khi tôi biết về những dòng thơ hay về con người của ông.

Lần đầu tiên tôi được nghe thơ phổ nhạc của Hữu Loan là qua một dàn máy karaoke ở nhà người hàng xóm, trong xóm nghèo của tôi ở Sài Gòn. Nhà hàng xóm tôi, với một cái tivi cũ kỹ và một dàn máy karaoke lỗi thời, là nơi tụ tập thường xuyên của bà con trong xóm. Ngày nào cũng vậy, dù là đang ngủ trưa hay đang học bài, tôi cũng nghe văng vẳng những bài vẫn bị coi là nhạc “sến”, mà trong đó tôi thích nhất là bài “Màu tím hoa sim”. Nghe riết đến thành thuộc lòng, đi đâu tôi cũng ngân nga “những đồi hoa sim ôi những đồi hoa sim tím chiều hoang biền biệt…”. Có lẽ trong một lúc cao hứng nào đó, khi nghe tôi hát, ba tôi lôi cuốn tập sưu tầm các bài thơ ông ưa thích ra, đọc cho tôi nghe vài bài. Với tâm hồn của tuổi thơ lúc ấy, tôi không cảm nhận được gì nhiều. Tuy nhiên, có lẽ vì ảnh hưởng qua bài nhạc phổ thơ nên tôi vẫn thích nhất bài “Màu tím hoa sim” của tác giả Hữu Loan. Vì yêu thích bài hát nên tôi đã học thuộc lòng luôn bài thơ. Nói thuộc vậy thôi chứ lúc đó tôi có hiểu gì đâu về câu chuyện và ý nghĩa sau lưng bài thơ tràn đầy tình cảm đó.

Sau này khi qua Mỹ, tôi hầu như không còn nhớ gì về bài hát yêu thích của mình lúc nhỏ. Tình cờ một hôm, đang lướt web thì tôi đọc được một bài phỏng vấn chính nhà thơ Hữu Loan về bối cảnh ra đời của bài “Màu tím hoa sim”. Câu chuyện thật đau thương và cũng là một biến cố lớn của cuộc đời tác giả, đã làm tôi sụt sùi nước mắt. Nó cũng giải đáp cho tôi rất nhiều những câu hỏi ngây ngô mà hồi nhỏ tôi hay thắc mắc mỗi khi đọc thơ của ông, như là “tình yêu của ông dành cho vợ là tình yêu dành cho em gái, nhưng sao lại cưới cô ấy?”, “tại sao em nhỏ hậu phương lại bị chết?”. Từ đó tôi thấy bắt đầu yêu thích con người Hữu Loan, một con người sống đầy tình cảm… Cả bài thơ “Màu Tím Hoa Sim” là những hình ảnh nhẹ nhàng diễm tuyệt, như “gió sớm thu về gờn gợn nước sông” hay “những đồi hoa sim tím chiều hoang biền biệt”.., hình ảnh và ý thơ đều toát ra nỗi buồn man mác trong nỗi cô đơn của người lính xa nhà, của người em gái nhỏ đã mất, của bà mẹ già, của các em thơ. Với vốn liếng tiếng Việt không mấy dồi dào của mình, tôi không thể diễn tả được những điều muốn nói về sự yêu thích của tôi đối với bài thơ này. Tuy nhiên, nghe ba tôi nói, hồi thập niên 50, 60 của thế kỷ trước, sinh viên học sinh ở miền Nam gần như ai cũng biết và thích bài thơ này; và dường như ít có bài thơ nào lại được nhiều nhạc sĩ ở miền nam phổ nhạc đến thế. Cũng theo ba tôi thì tuy bài thơ của Hữu Loan rất thịnh hành ở miền Nam, nhưng lại bị chìm trong bóng tối ở miền bắc, dù rằng Hữu Loan ở lại miền Bắc. Sự khác biệt “nam – bắc” này đã thúc dục tôi tìm hiểu thêm về tác giả và bối cảnh làm nẩy sinh ra sự khác biệt đó.

Trước những ngày đất nước bị chia đôi, “Màu tím hoa sim” cũng là bài thơ được những người lính trẻ chép lại mang trong ba lô đi hành quân. Nhưng sau khi miền bắc bị cộng sản cai trị, thì những thơ văn đầy tình người như bài “Màu Tím Hoa Sim” bị coi là “uỷ mị”, là sản phẩm của “giới tiểu tư sản”, nên phải bị cấm đoán. Đồng thời, những sự áp chế tư tưởng và thực trạng xã hội của miền bắc cộng sản, đã làm bùng lên một phong trào văn nghệ sĩ đối kháng, với sự xuất hiện của Nhân Văn Giai Phẩm (NVGP) để đòi hỏi tự do sáng tác và chống lại chính sách độc tài của nhà nước. Đọc về NVGP và văn thơ trước đó hay cùng thời ở miền bắc, tôi biết thêm nhiều bài văn, bài thơ tuyệt vời khác cũng bị chìm trong bóng tối. Thật không gì sâu sắc hơn lối diễn tả của Quang Dũng với“Vách đá cheo leo súng ngửi trời” (Bài Thơ Tây Tiến); hay cay đắng, thảm sầu hơn ý thơ của Trần Dần: “Tôi bước ra không thấy phố không thấy nhà, chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ”, (Nhất Định Thắng’). Với tâm hồn “rất người” của mình, nhà thơ Hữu Loan cũng tham gia vào phong trào NVGP và tiếp tục làm các bài thơ lên án những tiêu cực của cán bộ hay các văn nghệ sĩ thích nịnh hót Đảng. Những văn nghệ sĩ trong phong trào NVGP dĩ nhiên đều bị đảng cộng sản trù dập bằng cách này hay cách khác. Trong hoàn cảnh đó, chính sự khẳng khái không luồn cúi của Hữu Loan đã làm tôi quý trọng con người của ông hơn là tài năng của ông. Vào thời bấy giờ, chỉ vì một chút lợi lộc, nhiều người đã bỏ rơi nhân cách, dùng tài năng của mình để tung hô Đảng. Nhưng Hữu Loan thì cứ khăng khăng làm thơ đề cao tình yêu, tình người, tình yêu quê hương. Sau khi phong trào NVGP bi dập tắt, ông bị bắt đi tù “cải tạo” vài năm, rồi trở về quê lao động nặng nhọc, sống một cuộc đời khá vất vả. Cũng có một số người trong NVGP quay lại để qui phục Đảng vì miếng cơm manh áo, nhưng Hữu Loan thì nhất định không. Có lẽ ông là người có thái độ dứt khoát nhất, quyết không bao giờ chịu khuất phục cường quyền. Tôi khâm phục thái độ dứt khoát này của ông. Cho đến ngày ông qua đời sự dứt khoát đó vẫn không hề thay đổi.

Từ bỏ tất cả để về quê sống một cuộc đời khổ cực, đi cày ruộng, thồ đá,… nhưng tôi tin chắc rằng ông sống rất vui vẻ trong tâm hồn, để rồi ra đi trong sự thanh thản. Tấm gương bất khuất của ông cũng sẽ luôn soi sáng cho những thế hệ sau ông đang sống trong sự kìm kẹp và đàn áp. Cuộc đời và sự ra đi của ông đã nói cho cả thế giới biết rằng, một chế độ độc tài không bao giờ có thể làm con người ngưng đi quyền được suy nghĩ và bày tỏ nhũng suy nghĩ này, cho dù phải sống trong đày ải.

— –

Trang nhà Việt Tân xin giới thiệu đến quý độc giả hai tiết mục nói về bài thơ “Màu Tím Hoa Sim” của nhà thơ Hữu Loan do Bích Huyền thực hiện. Hai tiết mục này đã được phát thanh trên đài Chân Trời Mới cách đây gần 3 năm:

http://www.radiochantroimoi.com/spip.php?article1951

http://www.radiochantroimoi.com/spip.php?article1987

Đổi tên đường Trường Sa: một hành động “lục súc tranh công”

21 March, 2010 at 8:41 am | Posted in Uncategorized | Leave a comment

Đông Hà

Hôm 19/3/2010, một bạn trẻ từ thành phố Đà Nẵng đã tức tưởi ngậm ngùi gửi bức thư tới trang mạng BeauxitVietNam để thông báo một tin ngỡ ngàng với những người dân Viêt Nam: “Chính quyền thành phố Đà Nẵng vừa mới quyết định đổi tên đường Trường Sa thành đường 30-4.”

Không thể chối rằng, việc đổi tên đường vừa kể vào thời điểm này là không có động cơ chính trị. Trường Sa đang là cái tên nổi bật thu hút hàng triệu người dân Việt trong cũng như ngoài nước hướng tới; bởi sự an nguy của hòn đảo quê hương đang bị quân thù nhòm ngó, bởi bao nhiêu người lính Viêt Nam đã nằm trong lòng biển mẹ, dâng hiến cuộc đời cho sự toàn vẹn lãnh thổ. Trường Sa, nơi mà bao nhiêu máu của hải quân, ngư dân Việt Nam đã đổ xuống, và còn đang đổ xuống tại đó ngày hôm nay.

Chỉ cần vào google tìm kiếm 2 chữ Trường Sa, thấy tràn ngập những bài viết nóng hổi về quần đảo này. Những bài viết cho thấy tấm lòng của nhân dân nước Việt với bờ cỡi, non sông.

Đổi tên đường Trường Sa thành một cái tên khác là một việc chắc chắn sẽ gây nhiều chú ý của dư luận. Hiển nhiên đó là sự thách đố, dẫm đạp lên hàng triệu tấm lòng đang trông hướng từng ngày về phía quần đảo quê hương. Một thách đố ngang nhiên như vậy, chắc hẳn đã có những toan tính. Nó phải do một thế lực rất lớn ủng hộ mới có thể thực hiện được. Một nước cờ tàn nhẫn của những kẻ táng tận lương tâm. Nước cờ có thể được những thế lực đen tối nâng đỡ, trả công bằng những ủng hộ trong các vị trí bầu bán đại hội tới đây. Nước cờ của những kẻ bày tỏ dã tâm sẵn sàng quy phục, đầu hàng, dâng đất để đổi lấy địa vị, quyền lực.

Càng gần đến ngày đại hội ĐCSVN, không phải ngẫu nhiên mà mức độ nịnh bợ, chiều chuộng Trung Cộng của giới lãnh đạo đảng CSVN ngày một gia tăng. Từ triển khai gấp gáp Bô Xít đến bán rừng đầu nguồn, tổ chức 60 năm quan hệ Việt Trung trùng ngày đại lễ 1000 năm Thăng Long, giờ đến Đà Nẵng đổi tên đường. Từ Trường Sa thành 30-4, một ngày còn hằn ghi bao nhiêu đau đớn trong lòng hàng triệu dân Việt.

JPEG - 83.3  kb
Đường Trường Sa, Tp.Đà Nẵng

Kẻ đổi tên đường hẳn là muốn thể hiện lập trường chính trị của mình cho phù hợp với đường lối nhất quán của trung ương ĐCSVN. Đó là tôn thờ quan hệ Việt-Trung, trước sau như một, đặt Hoa Kỳ là nước thù địch. Một việc làm thể hiện rõ ràng lập trường chính trị kiên định như vậy, tất phải được nhìn nhận trong kỳ đại hội tới đây. Bí thư tỉnh ủy Đà Nẵng Nguyễn Bá Thanh, người đã từng dập tắt mọi lời dị nghị, đưa thiếu tướng công an Trần Văn Thanh ra tòa, vì tướng Thanh định phanh phui tội lỗi tham nhũng của hắn. Giờ đây Nguyễn Bá Thanh đổi tên đường để củng cố niềm tin với đàn anh, mong có chỗ đứng ở nhiệm kỳ kế tiếp.

Trong những năm gần đây tình hình chung mà ĐCSVN lo ngại là tình trạng nhân dân khiếu kiện đòi đất, tôn giáo đòi đất, nhân sĩ trong nước đòi hỏi nhà nước khẳng định chủ quyền biển đảo… Nắm bắt được những mối lo này của trung ương ĐCSVN, Nguyễn Bá Thanh đã lần lượt cứng rắn đàn áp tất cả những cuộc đòi đất của tôn giáo, nhân dân, và đến nay thì dẫm đạp lên tinh thần yêu nước của các nhân sĩ nước Việt. Thông qua những hành động bỉ ổi này, Nguyễn Bá Thanh muốn chứng tỏ mình là nhân vật đủ tài năng và bản lĩnh để giải quyết những mối lo lớn của ĐCSVN trong thời gian tới.

JPEG - 25.7  kb
Nguyễn Bá Thanh, kẻ xóa tên đường Trường Sa

Tại sao Nguyễn Bá Thanh có thể lộng hành ngang ngược, liên tục dẫm đạp lên dư luận ở nhiều vấn đề khác nhau như thế?

Không phải riêng Nguyễn Bá Thanh, mà xu hướng chung của những kẻ lãnh đạo còn độ tuổi làm việc mươi năm nữa đều đánh hơi thấy chỗ dựa lớn nhất bây giờ là các quan thầy Trung Cộng. Từ cấp chóp bu đến cấp ủy thành phố đều nhao nhao hướng về phương Bắc lập công trạng để mong dành được vị trí tương lai. Bởi thế mới có chuyện bán rừng đầu nguồn, bán than, nhập điện, khai thác mỏ… Trong nội tình ĐCSVN hiện nay, không có phe nhóm nào quyết định được vị trí quyền lực cho những chiếc ghế sắp bỏ ngỏ trong kỳ đại hội đảng sắp tới như vậy. Quan chức đầu tỉnh, đầu ngành vội vã đua nhau kiếm cách cầu thân với Trung Cộng để được nâng đỡ, bảo kê cho nhiệm kỳ tới. Kẻ nào nắm giữ chút quyền lực gì trong tay là đều bán cho Trung Cộng những tài sản của dân tộc mà hắn đang cai quản. Kẻ nắm đất rừng bán đất rừng; kẻ giữ tài nguyên nạo bán tài nguyên; kẻ quản lý văn hóa du nhập văn hóa Tầu về phủ lấp văn hóa Việt; kẻ cao nhất nắm hệ thống chính trị bán cả guồng máy, tư tưởng chính trị với danh nghĩa hợp tác trao đổi hai Đảng anh em. Bối cảnh như vậy làm sao kẻ táng tận lương tâm như Nguyễn Bá Thanh không dại gì mà bán nốt tinh thần yêu nước để tiến thân?

Sẽ còn nhiều công trình Trung Cộng trúng thầu, nhiều dự án Trung Cộng nắm giữ, sẽ còn nhiều tài nguyên như mỏ than đồng bằng sông Hồng bị khai quật vì Trung Cộng muốn vậy. Còn nhiều phim ảnh, sách báo Trung Cộng tràn ngập Việt Nam ca ngợi Càn Long, Hứa Thế Hữu, Đặng Tiểu Bình, Mao Trạch Đông… rồi tới Tôn Sĩ Nghị, Liễu Thăng, Mã Viện… nữa.

Đổi tên đường Trường Sa là bước đi tiên liệu phù hợp với thời cuộc, cũng là nước cờ sắp đặt tương lai cho bản thân của Nguyễn Bá Thanh cũng như bao nhiêu kẻ đồng nghiệp đầu ngành, đầu tỉnh Việt Nam đang làm. Nhìn chuỗi các sự kiện có yếu tố liên quan đến Trung Quốc đang diễn ra, người ta sẽ thấy rằng những hành vi vừa kể không có gì là lạ cả.

Một điều chắc chắn là, ĐCSVN đã không đủ tự tin vào nội lực của mình nữa, cho nên những cán bộ cao cấp trong Đảng đang đua nhau đổ xô đi tìm kiếm chỗ đứng ở bên kia biên giới phía Bắc. Từng tập đoàn, từng phe phái trong nội bộ ĐCSVN đua tranh ào ạt lấy lòng để làm tay sai cho quan thầy Trung Cộng như thế, nên thái thú Tô Quốc Tường mới mạnh miệng hăm he dân tộc Việt Nam ngay giữa thủ đô của Việt Nam rằng, chớ có chống lại quan thầy mà chuốc lấy thất bại .

Để trả lời người bạn trẻ về việc Đà Nẵng đổi tên đường, xin được dùng một bài ca cách đây hàng chục năm của nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn, bài ca này cũng nói về một sự đổi tên….

Sài Gòn ơi! Ta mất người như người đã mất tên
như giòng sông nước quẩn quanh buồn
như người đi cách mặt xa lòng
ta hỏi thầm em có nhớ không

Sài Gòn ơi! Đến những ngày ôi hè phố xôn xao
trong niềm vui tiếng hỏi câu chào
sáng đời tươi thắm vạn sắc màu
nay còn gì đâu.

Sài Gòn ơi! Ta mất người như người đã mất tên
mất từng con phố đổi tên đường
khi hẹn nhau ta lạc lối tìm
ôi tình buồn như đã sống thêm

Sài Gòn ơi! Tôi mất người như người đã mất tôi
như trường xưa mất tuổi thiên thần
hy vọng xa hay mộng ước gần
Đã lìa tan

Những Mẩu Vải Màu

17 March, 2010 at 8:31 pm | Posted in Uncategorized | Leave a comment


Đầu năm Canh Dần đọc được tin mới: truyền đơn “Lời Kêu Gọi Ngàn Năm Thăng Long” do 4 tổ chức đấu tranh thực hiện và phổ biến trong nước, kêu gọi mọi người dân cùng hiệp lòng phát huy lòng yêu nước và nếu là cán bộ, bộ đội hay đảng viên hãy bỏ đảng Cộng Sản, đứng về phía nhân dân. Lòng thật vui vì thấy đã có dấu hiệu đoàn kết trong trận tuyến chống cộng. Chưa hết, còn cả thông điệp “Hãy Cùng Đứng Lên” của Đại Lão Hoà Thượng Thích Quảng Độ, kêu gọi toàn dân tộc hãy mạnh dạn can đảm đứng lên giành lại quyền tự quyết của dân Việt. Xin được tỏ lòng cảm phục ý chí dấn thân và can đảm của các vị này.

Nhưng thiển nghĩ, nếu tự đặt trường hợp tôi là một người nào đó đang ở Việt Nam, thí dụ là một dân oan đang sinh sống tạm bợ ở một công viên nào đó ở Hà Nội, đang chờ đợi đơn khiếu kiện nhà cửa bị tịch thu oan ức, và một vào ngày đầu năm nhặt được một tờ truyền đơn nêu trên, hay nghe đâu đó qua người quen về lời kêu gọi của Đại Lão Hoà Thượng Thích Quảng Độ, tôi sẽ nghĩ gì và sẽ làm gì? Tôi có dám công khai chống lại đảng và nhà nước Việt Cộng, một bạo quyền độc tôn độc tài đang trở nên càng ngày càng hung hãn và đán áp thô bạo như những lúc gần đây được biết đến? Có và còn ai nữa sẽ cùng đứng bên tôi, chung một lý tưởng? Chống lại bằng cách nào? Bắt đầu từ đâu, như thế nào? Vợ con và gia đình tôi sẽ ra sao nếu như rủi ra (hay là chắc chắn) tôi bị nhà nước “xử lý” như đã làm với Lê Thị Công Nhân, Điếu Cày, Trần Huỳnh Duy Thức ….? Đó là những ưu tư và tâm tình rất có thể xảy ra trong lòng tôi lúc đó. Rất có thể tôi sẽ liều mình, dấn thân (như các vị anh hùng anh thư tranh đấu cho nhân quyền nêu trên); và cũng rất có thể tôi chỉ tiếp tục nuôi lòng căm phẩn đối với bạo quyền như bấy lâu nay và tiếp tục chịu đựng số phận của một người dân oan (như bao nhiêu dân oan đó đây chung quanh tôi). Tôi phải làm gì đây?

Đến đây chắc mọi người đã hiểu. Vấn đề được đặt ra ở đây là:

  • Những lời vấn tội đảng Cộng Sản Việt Nam mà chúng ta đã nêu lên trong suốt mấy mươi năm qua đã đủ chưa hay cần phải làm gì hơn nữa?
  • Công cuộc đấu tranh dành tự do và dân quyền ở Việt Nam đã và cần đến giai đoạn nào?
  • Hiệu quả của công tác dân vận, ngoại vận và đấu tranh chống cộng của chúng ta đang làm như thế nào?

Những gì chúng ta đã làm đến nay như báo động, lên tiếng, phản đối, kêu gọi, tố cáo, nhận định, trình bày, vạch trần, kiến nghị, … đã có thể coi là tạm đủ. Trừ ra một thiểu số rất rất ít đảng viên cộng sản còn u mê và cố bám víu vào ý thức hệ cộng sản, hay đám chạy theo vì quyền lợi làm ăn, ai mà không biết cộng sản là gì, tội ác chúng như thế nào. Dĩ nhiên chúng ta sẽ không ngừng nghỉ tố cáo, vạch trần tội ác và những vi phạm của Việt cộng đối với dân tộc, khi cần đến. Nhưng chúng ta cũng không thể dừng ở đó. Tất cả các chế độ cộng sản đông Âu và Liên Xô đã không sụp đổ chỉ vì nhân dân các nước đó hay cộng đồng thế giới nhận thức được chính quyền độc tôn cộng sản là gì, đã làm nên tội ác gì, tệ hại ra làm sao v.v… Thiết nghĩ, sự nhận thức hay tố cáo đâu là nguồn cội và nguyên do cho bao nhiêu bất công, băng hoại xã hội, hay nguy cơ mất nước dù là điều cơ bản và thiết yếu, nhưng rất tiếc lại chưa đủ để lật đổ được một bạo quyền độc tôn.

Chúng ta cũng không thể dừng ở đó. Phải hành động thiết thực và cụ thể hơn. Mỗi chiếc dịch hay phong trào tranh đấu đề ra cần phải cân nhắc đến những gì có thể thâu lượm được sau đó. Và những kết quả đạt được này phải là những viên gạch bậc thang đưa chúng ta đến gần mục đích hơn: Chấm dứt chế độ độc tài đảng trị, bảo vệ toàn vẹn lảnh thổ, tự do công bình xã hội cho mọi người dân. Mỗi cuộc biểu tình, mỗi lần rải truyền đơn đều cần phải lượng định trước hiệu quả của từng chiến dịch. Luôn tự hỏi, tờ truyền đơn này, cuộc xuống đường kia hay lời kêu gọi nọ sẽ tác động như thế nào, đến đối tượng nào, sẽ giúp cho công cuộc đấu tranh tiến gần tới mục đích thêm được bao nhiêu. Chỉ khi nào chúng ta trả lời được những câu hỏi như thế có nghĩa là chúng ta đã làm việc có hiệu quả.

Nhìn lại một trường hợp để làm thí dụ: Hồi đầu năm nay, ở quận Cam, California, cộng đồng người Việt đã tổ chức một cuộc xuống đường rầm rộ để đấu tranh cho tự do tôn giáo và nhân quyền tại Việt Nam, với sự hưởng ứng tham gia của khoản 10.000 người Việt. Hôm đó, tôi cũng đến và tham dự cuộc tuần hành này. Cuộc tuần hành với rừng cờ, biểu ngữ đi lòng vòng theo các lối mòn trong một công viên rộng lớn đầy cây xanh và cỏ mượt tươi mát vào một ngày chúa nhật yên ả. Tôi vừa đi theo đoàn biểu tình, vừa phụ hoạ theo những lời hô hào “đả đảo Việt cộng…” và âm thầm tự hỏi: Cuộc xuống đường này của 10.000 người Việt yêu quê hương và căm phẩn bọn Việt cộng này có giúp gì cho “cuộc đấu tranh cho tự do tôn giáo và nhân quyền tại Việt Nam”, như mục đích đã nêu trên và được đề xướng từ ban tổ chức? Cụ thể hơn, đặt ra câu hỏi: chúng ta đã đạt được những gì? Tự do tôn giáo và nhân quyền ở Việt Nam qua đó sẽ được cải thiện chút ít gì chăng? Và nhận định của riêng tôi là: sau cuộc đi bộ xuống đường, những người tham dự sẽ ra về với lòng căm thù Việt cộng được tăng thêm, một số báo chí, đài radio, truyền hình Việt hải ngoại có thêm chất liệu cho chương trình thông tin của họ. Ngoài ra còn gì nữa? Có thể là một vài người bản xứ chạy bộ tập thể dục trong công viên ngày hôm ấy tò mò hỏi han chuyện gì và được giải thích những gì đang xảy ra ở Việt Nam. Và những giáo dân hay phật tử bị áp bức, cấm cản và trù dập ở Việt Nam sẽ được gì, một chút gì, sau cuộc xuống đường của chúng ta ngày hôm nay trong một công viên đẹp đẻ và yên lành này? Đất nước ta sẽ có thêm chút tự do nào sau những lời hô hoán khan cổ của chúng ta ngày hôm nay giữa khu công viên bình thường tương đối vắng lặng và êm đềm trong một ngày chúa nhật nắng đẹp? Đặt ra những câu hỏi tự chất vấn mình như thế, chúng ta sẽ thấy được kết quả cụ thể chúng ta đã đạt được. Tổ chức để qui tụ được 10.000 người không phải là điều dễ làm. Bao nhiêu là công sức và tiền bạc của những thành viên sinh hoạt tích cực, bao nhiêu là những cuộc vận động kết hợp, điều phối của các hội đoàn, đảng phái, ban ngành v.v…. Tôi nghĩ, phải chi cuộc biểu tình này được diễn ra ở nơi khác:

  • downtown Los Angeles, để cho thật là nhiều người dân bản xứ và các cơ quan công quyền địa phương biết đến. Mục tiêu ở đây là tố cáo tội ác Việt cộng trước dư luận thế giới. Dù là mục đích rất hạn hẹp và vẫn còn tương đối trừu tượng, nhưng vẫn còn hơn nhiều lần với cuộc đi bộ trong công viên nêu trên (gần như chúng ta chỉ tố cáo cho chính chúng ta nghe mà thôi).

  • hay trước toà giám mục quận Cam, hay quận Los Angeles, để chính thức trao cho toà giám mục thỉnh nguyện thư của chúng ta nhằm yêu cầu các vị giám mục trong khả năng và mức độ có thể hãy tạo áp lực và ảnh hưởng đến dư luận công chúng, yêu cầu chính phủ (tiểu bang và liên bang) lên tiếng can thiệp vào vấn đề tự do tôn giáo vốn vẫn là vấn đề rất nhậy bén và ưu tiên với các xứ Âu Mỹ. Mục tiêu của chúng ta ở đây, nếu thuận lợi, sẽ là có thêm tiếng nói chính thức của thế lực tôn giáo sở tại tham gia vào phong trào đòi tự do tôn giáo, có thêm một số chính trị gia, phóng viên, hội đoàn Mỹ ủng hộ chúng ta, cùng yêu cầu và có thể tạo áp lực lên chính quyền Việt cộng. Nếu không đạt được như thế, ít ra chúng ta đã tạo được sự chú ý của dân bản xứ đến tình trạng tồi tệ về tự do và nhân quyền tại Việt Nam. Chúng ta sẽ không chỉ là 10.000 người mà là 20.000, 40.000 nguời hay hơn nữa. Có thể đức giám mục sẽ yêu cầu các giáo xứ họ đạo trong vùng cùng hiệp thông cầu nguyện chung trong một ngày nào đó v.v…
  • hay trước toà nhà quốc hội tiểu bang, hay trước một cơ sở truyền thông địa phương, hoặc hay trong phố trên đường dẫn vào phi trường LA, … với lời kêu gọi tẩy chay hiệp thương, đầu tư, hay du lịch Việt Nam. Giới đầu tư hay du khách sẽ suy nghĩ lại khi biết rõ hơn tình hình thực tại ở Việt Nam. Một cuộc xuống đường 10.000 người không phải là ít, nhất là đối với người Mỹ. Chính giới ở Mỹ sẽ chú ý đến vấn đề Việt Nam hơn, và nhất là biết được cử tri người Mỹ gốc Việt, người sẽ đi bỏ phiếu cho lần bầu cử sắp tới, muốn gì, quan tâm chuyện gì.

Ngoài ra, chúng ta cần có một phương pháp đấu tranh mới và thực tiễn hơn, đặc bìệt cho quốc nội. Trong bài này tôi xin trình bày thiển ý và đưa ra một đề nghị.

Trước hết, trở lại trường hợp rải truyền đơn hồi đầu năm mới đây cũng như lời kêu gọi của Đại Lão Hoà Thượng Thích Quảng Độ. Tôi nghĩ, thay vì chỉ hài tội (Việt cộng), vạch mặt (âm mưu bán nước) và kêu gọi (nhân dân đoàn kết đấu tranh), chúng ta nên có thêm những huớng dẫn, gợi ý, và tổ chức những cuộc xuống đường tuy bất bạo động nhưng với những mục tiêu rõ ràng và nhất là với những hướng dẫn cụ thể giúp dân chúng trong nước biết cách để có thể tụ tập “bán chính thức”, xuống đường “bán chính thức”, và có cơ hội có thể tạo ra được làn sóng đấu tranh sinh động, rộng khắp và khó bị đàn áp. Xin đơn cử một vài thí dụ:

  • Tung ra những chiến dịch rải truyền đơn bằng giấy hoặc qua email trong nước, đặc biệt nhắm đến giới sinh viên, học sinh, công chức, thầy cô giáo, v.v…. Lời lẽ trình bày phương cách phản đối Trung quốc lấn biển chiếm đất, có thể như: bất kỳ sau khi có một bản tin nào đại loại liên quan đến “tàu lạ đâm chìm tàu ngư dân…”, hay “rừng đầu nguồn”, hay “16 chữ vàng” v..v.. mỗi người hãy thắt một mẩu vãi nhỏ (mầu vàng, nâu, trắng hay xanh… nhưng không là mầu đỏ) trên tất cả cây trồng chung quanh toà đại sứ và Lãnh sự Trung quốc. Việc làm này hoàn toàn không gây hại cho người tham gia, vì công an không thể nào bắt một người chỉ vì thắt một mẩu vải không có mang bất cứ nội dung “phản động” nào. Mặc dù không có lời lẻ nào viết trên các mẩu vải như thế, nhưng tôi đoan chắc là chỉ sau một thời gian ngắn, sau vài ba lần như thế, mọi người sẽ biết được qua các lời truyền khẩu đồn đại trong dân gian. Những mẩu vải này nói lên sự bất mãn của dân Việt, của người dân bị bóp nghẹt tiếng nói, để phản đối bạo quyền, và ngay cả để tỏ tình tương thân đoàn kết với những nạn nhân ngư nhân. Người Việt mình đến nay chưa quen với cách tỏ hiện này, nhưng lại rất phổ biến ở Âu Mỹ, như đem hoa đem nến đến đặt trước một địa điểm đã xảy ra chuyện gì đó (một tài tử vừa qua đời, một nạn nhân hình sự vừa được khám phá, v.v…). Chỉ là một hành động đơn giản (để hoa xuống đất) nhưng ai nấy đều hiểu ý nghĩa là gì. Gần đây ở Thái Lan đã có những biểu hiện có khuynh hướng như thế: nhóm áo vàng, áo đỏ v.v… Chỉ bằng với mầu sắc, họ đã tạo nên được mối tương quan và đoàn kết trong một chiến dịch nào đó. Theo tôi, sau vài lần, để ngăn chặn chuyện “biểu tình bán chính thức” cột vải mầu vào cây này, bọn công an chỉ có nước cử người gác ở … trước từng gốc cây mà thôi.
  • Tương tự như thế, đối với các đàn áp tôn giáo (Đồng Chiêm, Thái Hà, Bát Nhã, Hoà Hảo…) chúng ta có những chiến dịch tung truyền đơn với những hướng dẫn như trên. Những mẩu vải có thể buộc vào tay, đơm vào áo, cột vào xe, treo trước nhà, v.v… Thoạt đầu, có thể chỉ có một vài người làm theo (vì thấy không có làm gì trái pháp luật), rồi một số đông khác sẽ noi theo, sau đó có thể bị công an làm khó dễ, nhưng kết cuộc bọn chúng chẳng làm được gì, vì có ai hô hào chống đối gì đâu. Cái hình ảnh cả một làng Đồng Chiêm (và một số làng kế cận) đều nhất loạt “biểu tình bán chính thức” như thế (nhà nhà treo vải, bất kể tôn giáo nào, xe đạp xe bò xe đò xe ôm thắt vải, trên áo học sinh gắn vải, trên tay cột vải,v.v…) sẽ làm cho bọn công an chùng tay e sợ hơn và nhất là nhận ra được đâu là quần chúng thực sự, đâu là toàn dân thực sự. Nếu có một giáo dân bị đánh đập hay bắt bớ, hãy tung truyền đơn (bằng giấy, hay email) kêu gọi sự bầy tỏ tình liên đới và đoàn kết bằng cách đến trước nhà nạn nhân cột ở hàng dậu một mẩu vải nhỏ. Nếu chúng ta tổ chức và kêu gọi được như thế, chuyện gì có thể sẽ xảy ra? Có thể một tuần sau, trước hàng rào của ngôi nhà đó hoặc nhà thờ phất phơ không biết bao nhiêu mẩu vải đồng mầu. Công an sẽ đến tháo ra, làm những chốt chặn đầu ngỏ, dựng những ụ đất ngăn việc đi lại đầu làng, nhưng không sao, đồng bào sẽ tiếp tục thắt những mảnh vải ấy ở những hàng cây trên đường dẫn vào làng, trong hành lang bệnh xá, chung quanh trường học, trên xe lửa, ở Hà Nội, ở Đà Lạt, ở Sài Gòn. Bất cứ khi nào thấy có mảnh vải như thế ai nấy đều hỏi nhau, “chuyện gì thế?”, và cứ như thế, tin tức được truyền đi và sẽ có nhiều người gia nhập thêm vào “phong trào biểu tình bán chính thức” này.

Nhân đây xin nhắc lại lời kêu gọi “một tháng bất tuân dân sự” của Đại Lão Hoà Thượng Thích Quảng Độ vào dịp tháng tư năm 2009, kêu gọi mọi người biểu tình bất bạo động bằng cách … ngồi ở nhà, không ra đường. Ở ngoài này, tôi không rõ người dân trong nước có hưởng ứng lời kêu gọi này không? Nhưng tôi có thể hình dung ra, chỉ một số rất ít được biết đến lời kêu gọi này (là phật tử, thường theo dõi thời cuộc qua mạng, biết cách vượt tường lửa…). Và khi biết được, họ có thể hưởng ứng không ( ở lì trong nhà suốt cả tháng, không đi làm…)? Hiệu quả như thế nào? Tôi nghĩ hiệu quả của lời kêu gọi này rất ít. Ở đây, xin nói rỏ một điều: Lời kêu gọi “một tháng bất tuân dân sự” thật ra có thể sẽ tạo ra một sức mạnh khủng khiếp, đặc biệt, nhất là ở giai đoạn quyết liệt sau cùng trong cuộc đấu tranh chống Cộng sản, như cuộc đấu tranh của thánh Gandi ở Ấn độ ngày trước phản đối bọn thực dân Anh. Nhưng phải chăng còn quá sớm cho tình hình nước ta hiện nay?

Tóm lại, trong tình thế hiện nay: bạo quyền Việt cộng với chính sách độc đảng độc tôn, một mặt đang cố bám víu lấy quyền lực và ưu thế quyền lợi, bằng cách năng nổ hơn trong việc vơ vét cho bằng hết tài nguyên đất nước, tận dụng bằng hết thủ đoạn để bóc lột người dân, đàn áp cho bằng được bất cứ phản kháng hay ngay cả kiến nghị sửa sai trong nội bộ, mặt khác phải qụy lụy quan thầy Trung quốc, nhường đất bán biển cho ngoại bang. Để tiếp tục cố sống trong thế cai trị đó, bọn chúng đã không từ bỏ bất cứ thủ đoạn hay phương tiện nào để bưng bít thông tin, khủng bố lòng dân, dằn mặt phản biện.

Để đối đầu với tình huống trên,

  • mặc dù chúng ta vẫn cần đến những đầu tàu là những vị anh hùng anh thư đã và đang mạnh dạn đứng lên đối đầu trực diện với thế lực đỏ, chúng ta cũng đang rất cần một phong trào mở rộng và sinh động trong lòng dân tộc, bằng cách này hay cách khác, dám bày tỏ những phẩn uất và đối kháng của mình trong một xã hội đầy bất công và bất an như hiện nay.
  • mặc dù những lời kêu gọi, hô hào, kiến nghị, bạch thư, tố cáo tội ác của Việt cộng là những điều không thể thiếu trong cuộc đấu tranh này, chúng ta cũng rất cần những hành động cụ thể, hữu hiệu và nhất là an toàn cho một phong trào đấu tranh trong nước.
  • mặc dù bạo quyền đang hung hãn và đê tiện ra tay đàn áp tôn giáo và những chính kiến dị biệt, chúng ta rất cần tìm ra, đề xướng và phát huy được một phương pháp thích ứng để nối kết, huy động cổ võ lòng dân dám đứng lên bày tỏ nguyện vọng của mình.

Một trong những phương pháp thích ứng trong trường hợp này là những mẩu vải màu mà người viết rất mong một tổ chức chính trị, một đảng phái đấu tranh, hay một vị anh hùng anh thư trong nước đứng ra kêu gọi và xướng xuất. Nếu được dịp, trong lần tới, tôi sẽ xin góp ý thêm về những trận thế công mới cần phải thực hiện trong lúc này để tấn công thẳng vào sào huyệt của bạo chúa.

Đức Tường California, ngày 13 tháng 03 năm 2010

Ngày Trường Sa 14/3/2010, Việt Tân xiển dương tinh thần bảo vệ đất nước

17 March, 2010 at 8:34 am | Posted in Uncategorized | Leave a comment

HS.TS.VN tại Hà Nội — phóng sự bằng hình

16 March, 2010 at 8:37 am | Posted in Uncategorized | Leave a comment

http://www.viettan.org/spip.php?article9640

Vào sáng ngày 14/3/2010, tức ngày giỗ thứ 22 của 64 chiến sĩ Việt Nam trong trận chiến chống Trung Quốc bảo vệ Trường Sa, linh qui tại Hồ Hoàn Kiếm nổi lên mặt nước. Một sự kiện hiếm hoi tại Hà Nội.

JPEG - 22 kb

Trước đền Ngọc Sơn, những con dân Việt khác đang tiếp nối nỗ lực bảo vệ chủ quyền quốc gia.

JPEG - 73.4 kb
JPEG - 76.2 kb
JPEG - 70.3 kb

Có người chỉ mới biết về hiểm họa mất nước.

JPEG - 46.3 kb
JPEG - 50 kb

Có người muốn biết rõ hơn vì báo đài nhà nước đều im lặng.

JPEG - 71.6 kb
JPEG - 63.2 kb

“Việt Nam phải vẹn nguyên”

JPEG - 59.6 kb
JPEG - 59.3 kb
JPEG - 76.9 kb
JPEG - 55.7 kb

Yêu nước và hãnh diện bày tỏ lòng yêu nước đương nhiên như nhịp thở.

JPEG - 72.2 kb
JPEG - 41.6 kb

Dân tộc Việt Nam sẽ vượt qua mọi trở lực để giữ gìn từng tấc đất quê hương trải hơn 4000 năm hy sinh của cha ông để lại.

Bắc Kinh Chuẩn Bị Cho Nguyễn Chí Vịnh?

15 March, 2010 at 10:14 pm | Posted in Uncategorized | Leave a comment


Trung Điền

Đầu tháng 3 vừa qua, Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ quốc phòng Cộng sản Việt Nam đã thăm viếng Bắc Kinh và có cuộc tiếp xúc đặc biệt với Trung tướng Lương Quang Liệt, Bộ trưởng bộ quốc phòng Trung Quốc. Đây là chuyến đi thăm Trung Quốc đầu tiên của Nguyễn Chí Vịnh kể từ sau khi được bổ nhiệm làm Thứ trưởng quốc phòng vào tháng 2 năm 2009. Tuy nhiên, chuyến đi Trung Quốc của Nguyễn Chí Vịnh đã không được báo chí tại Việt Nam đề cập nhiều, thậm chí không nói rõ mục tiêu và thời gian thăm viếng của Nguyễn Chí Vịnh tại Bắc Kinh.

Trong khi đó, báo chí Trung Quốc lại thổi lớn việc Nguyễn Chí Vịnh dẫn một phái đoàn quân sự thăm viếng Trung Quốc với mục tiêu thắt chặt tình hữu nghị giữa hai nước nhân dịp đánh dấu 60 năm quan hệ Trung Việt. Báo chí Trung Quốc còn cho biết là trong buổi tiếp xúc, Trung tướng Lương Quang Liệt, Bộ trưởng quốc phòng Trung Quốc, đã hết lòng khen ngợi Nguyễn Chí Vịnh và mong mỏi Nguyễn Chí Vịnh góp phần tích cực trong việc đẩy mạnh quan hệ trao đổi song phương và hợp tác để hiểu biết sâu sắc hơn, đồng thời gia tăng mối quan hệ chiến lược giữa hai nước.

Từ đầu năm 2010 đến nay, có lẽ Nguyễn Chí Vịnh là nhân vật cao cấp nhất của Hà Nội viếng thăm Trung Quốc. Việc Bắc Kinh mời Nguyễn Chí Vịnh thăm viếng đúng vào lúc cả hai chế độ cộng sản anh em này đang tổ chức các buổi lễ kỷ niệm 60 năm quan hệ ngoại giao cho thấy là Bắc Kinh đang chuẩn bị tư thế chính trị cho Nguyễn Chí Vịnh. Tại sao?

Nguyễn Chí Vịnh và Tô Huy Rứa được coi là hai nhân vật “thân tín” nhất của Trung Quốc trong hàng ngũ lãnh đạo Cộng sản Việt Nam hiện nay. Tô Huy Rứa đang được Bắc Kinh hỗ trợ để trở thành một lý thuyết gia “Mác-xít” cuối mùa tại Việt Nam; giống như Liên Xô đã từng uốn nắn Đào Duy Tùng trở thành lý thuyết gia “kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa” vào những năm cuối thập niên 80. Tô Huy Rứa hiện nay là Ủy viên bộ chính trị, Trưởng ban tuyên giáo, nắm trong tay toàn bộ công cụ báo chí tuyền thông và các cơ sở giáo dục. Tô Huy Rứa còn là Chủ tịch Hội đồng lý luận trung ương, một cơ quan trá hình để tổ chức những buổi học tập bồi dưỡng chính trị và tư tưởng cho các cán bộ cao cấp của đảng Cộng sản Việt Nam qua sự giảng dạy của cán bộ chính trị từ Trung Quốc.

Nguyễn Chí Vịnh đang được Bắc Kinh chuẩn bị nắm vị trí số một trong Bộ quốc phòng Cộng sản Việt Nam trong thời gian tới. Nguyễn Chí Vịnh sinh năm 1957, con trai của tướng Nguyễn Chí Thanh. Sau khi Nguyễn Chí Thanh chết ở trong Nam thì Nguyễn Chí Vịnh được gia đình Lê Đức Thọ nuôi nấng. Năm 1977, Nguyễn Chí Vịnh nhập ngũ và tốt nghiệp sĩ quan thông tin. Năm 1979, Nguyễn Chí Vịnh vào làm việc cho cục Nghiên cứu Bộ quốc phòng. Tháng 2 năm 1995, Nguyễn Chí Vịnh giữ nhiệm vụ chỉ huy Cục 12, Tổng cục 2. Năm 1997, Nguyễn Chí Vịnh được bổ nhiệm làm Phó tổng cục 2. Đây là thời kỳ Nguyễn Chí Vinh đã cấu kết với phe nhóm Lê Đức Anh ngụy tạo một số bản tin tình báo mật của cơ quan CIA Hoa Kỳ, cáo buộc là CIA đã móc nối một số nhân vật cao cấp của Cộng sản Việt Nam, trong đó có các ông Phan Văn Khải, Võ Văn Kiệt và cả Võ Nguyên Giáp, với âm mưu làm loạn để lật đổ chính quyền cộng sản. Ông Võ Nguyên Giáp đã viết thư tố cáo những ngụy tạo này và yêu cầu điều tra Nguyễn Chí Vịnh nhưng Lê Đức Anh đã gạt ra.

Nhờ những việc làm nói trên, Nguyễn Chí Vịnh được thăng Thiếu tướng vào tháng 7 năm 1999 và 3 năm sau được bổ nhiệm làm Tổng cục trưởng Tổng cục 2 vào tháng 8 năm 2002, thay thế Trung tướng Đặng Vũ Chính là bố vợ của Vịnh về hưu. Kể từ khi nắm Tổng cục 2, Nguyễn Chí Vịnh đã trở nên thân thiết với Bắc Kinh nhiều hơn và hai phía đã có những hợp tác trao đổi về các tin tức tình báo. Nguyễn Chí Vịnh đã cung cấp cho phía Trung Quốc danh sách cán bộ lãnh đạo Cộng sản Việt Nam có cảm tình hoặc không có cảm tình đối với Bắc Kinh. Dựa trên danh sách này, Trung Quốc đã tìm cách mua chuộc và gây ảnh hưởng lên hàng ngũ lãnh đạo Cộng sản Việt Nam. Trong mối quan hệ này, Nguyễn Chí Vịnh được coi là “con thoi” giữa Nông Đức Mạnh với lãnh đạo Bắc Kinh. Đặc biệt, Nguyễn Chí Vịnh được Nông Đức Mạnh giao cho nhiệm vụ liên lạc về vấn đề khai thác Bauxite tại Tây Nguyên. Tháng 12 năm 2004, Nguyễn Chí Vịnh được thăng Trung Tướng.

Vào năm 2006, cả Nông Đức Mạnh lẫn Bắc Kinh đều muốn đưa Nguyễn Chí Vịnh vào Trung ương Đảng nhân đại hội đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 10 vào tháng 4 năm 2006. Nhưng Nguyễn Chí Vịnh đã bị tấn công dữ dội về vụ Tổng Cục 2 làm tay sai cho Trung Quốc. Đồng thời uy tín của Nông Đức Mạnh bị suy giảm một cách thê thảm sau khi phe Nguyễn Tấn Dũng khui ổ tham nhũng PMU 18 thuộc Bộ giao thông từ cuối năm 2005, vì thế mà tên của Nguyễn Chí Vịnh đã không được để vào danh sách ứng viên Trung ương đảng để cho các đại biểu chọn lựa trong đại hội X vào tháng 4 năm 2006.

Nguyễn Chí Vịnh không được vào Trung ương đảng nhiệm kỳ X là một thất bại lớn của Nông Đức Mạnh và Bắc Kinh, vì Vịnh bị chống đối quá mạnh trong nội bộ. Rút kinh nghiệm đau thương này, cả Nông Đức Mạnh lẫn Bắc Kinh đã giúp cho Nguyễn Chí Vịnh cách chuẩn bị khác. Tháng 2 năm 2009, Nguyễn Chí Vịnh được bổ nhiệm làm Thứ trưởng bộ quốc phòng và đến tháng 8 năm 2009, Nguyễn Chí Vịnh thôi kiêm nhiệm Tổng cục trưởng Tổng cục 2; người thay thế là Trung tướng Lưu Đức Huy, đàn em của Vịnh.

Sau khi không còn nắm Tổng cục 2, Nguyễn Chí Vịnh được sửa soạn xuất hiện ra bên ngoài với một tư thế mới như: Chủ tọa buổi lễ công bố sách trắng Bộ Quốc Phòng vào tháng 12 năm 2009; Chủ tọa buổi gặp gỡ các tân đại sứ, trình bày về đường lối an ninh quốc phòng của Cộng sản Việt Nam trước khi lên đường nhận nhiệm sở vào tháng 1 năm 2010; gặp gỡ và trả lời câu hỏi của báo chí quốc tế về tình hình an ninh vào tháng 2 năm 2010; dẫn một phái đoàn quân sự cao cấp viếng thăm Bắc Kinh vào cuối tháng 2 năm 2010.

Những diễn tiến “thăng quan tiến chức” của Nguyễn Chí Vịnh nói trên, cho thấy là Vịnh đã được chuẩn bị khá kỹ. Với đà này, vài năm nữa, Nguyễn Chí Vịnh sẽ leo vào Bộ chính trị và lên nắm chức Bộ trưởng quốc phòng thay thế Phùng Quang Thanh, thân Phương Tây. Hiện nay trong Bộ quốc phòng Cộng sản Việt Nam có 5 Thứ truởng, chỉ có một mình Nguyễn Chí Vịnh là chưa vào được Trung ương đảng; do đó, nhiều phần phe Nông Đức Mạnh và Bắc Kinh sẽ phải chạy nhiều cửa để vận động cho Vịnh được đề bạt vào Trung ương đảng trong đại hội đảng lần thứ XI vào tháng 1 năm 2011.

Nguyễn Chí Vịnh năm nay mới 53 tuổi. Vịnh còn đến hơn 10 năm nữa để “phấn đấu” leo lên làm thành viên Bộ chính trị và làm Bộ trưởng quốc phòng nếu đảng Cộng sản Việt Nam còn sống lâu đến đó. Đương nhiên, Bắc Kinh sẽ giúp tiền cho Vịnh để chạy đúng cửa như đã từng giúp cho nhiều cán bộ lãnh đạo Cộng sản Việt Nam hiện nay vào Trung ương đảng và Bộ chính trị. Sau khi vào rồi họ phải làm tay sai cho quan thầy. Nguyễn Chí Vịnh không thể đi ra ngoài quỹ đạo của Bắc Kinh.

Trung Điền

Ngày 11/3/2010.

Những phiên toà trí trá ở Việt Nam và Trung Quốc

4 March, 2010 at 9:18 pm | Posted in Uncategorized | Leave a comment

Ngô Văn


http://www.viettan.org/spip.php?article9592

Đầu năm dương lịch 2010, chế độ cộng sản Việt Nam đưa nhiều nhà dân chủ ra tòa án ở Sài Gòn, Hà Nội, Hải Phòng xử với những bản án thật nặng nề. Những người ngồi ghế xét xử chỉ vào trong gọi là để “hội ý” chừng 15 phút là đã có ngay bản án dài lê thê, chỉ đọc không cũng đã mất khoảng 45 phút. Đúng như dư luận tố cáo, điều này cho thấy bản án đã có sẵn, với những quyết định đã có từ trước để đáp ứng cho nhu cầu trấn áp của cộng Sản Việt Nam, mà toà án chỉ là công cụ của bộ máy trấn áp này. Đây là một kịch bản bịp bợm đã được cộng sản Việt Nam diễn đi diễn lại một cách lộ liễu từ trước đến nay. Tuy nhiên, sự trí trá và gian manh trong các phiên toà vừa qua thì đã lên đến một cao điểm mới.

Ở đây không cần nhắc lại chi tiết những bài bản trong tiến trình trấn áp những người yêu nước, từ việc dùng truyền thông của đảng bôi bẩn, vu cáo các bị cáo và kết án trước khi xét xử ở toà; đến những trò sách nhiễu, triệt hạ nguồn sống của các bị cáo; hoặc dùng đám côn đồ trộn lẫn công an hành hung, hay dùng kiểu “toà án nhân dân” ở các tổ dân phố để trù dập các nạn nhân một cách bẩn thỉu, v.v… Ở đây chỉ cần nêu lại một điểm cốt lõi, mà lẽ ra đều phải có trong bất cứ vụ xử án nào. Đó là tang chứng cho vụ án. Ở các phiên toà nêu trên, tang chứng đã hoàn toàn vắng bóng.

Một cách tổng quát thì các tang chứng sẽ là nền tảng cho một vụ án, để từ đó công tố viên buộc tội, các luật sư phản biện. Tất cả những yếu tố này sẽ được hội đồng xét xử thẩm định cùng với sự giải thích những điều luật tương ứng, để xem bị cáo vi phạm luật pháp như thế nào. Có cấu thành tội trạng hay không ? v.v…

JPEG - 3.9 kb
Cô Phạm Thanh Nghiên, 4 năm tù ở và 3 năm quản chế

Trong các phiên toà ở Hà Nội và Hải Phòng, tội trạng được đưa ra để kết án đều xoay quanh hành vị “treo biểu ngữ” và phát tán tài liệu phỉ báng chế độ. Tuy nhiên, những biểu ngữ mà các nhà dân chủ đã treo tại một số nơi công cộng,… dù đã bị công an thu giữ (tức là không hề mất đi đâu), nhưng lại không được đưa ra làm vật chứng căn bản cho vụ án. Các tài liệu được gọi là “chống phá nhà nước” cũng vậy. Biểu ngữ “Hoàng sa, trường Sa là của Việt nam” mà cô Phạm Thanh Nghiên dùng trong lúc tọa kháng và bị bắt, cũng không được trưng ra ở toà án để làm bằng chứng. Chánh án phiên toà lấp liếm rằng, biểu ngữ đó và việc cô Phạm Thanh Nghiên kết án công hàm bán nước Phạm văn Đồng “chưa được phát tán rộng rãi trên internet” (*), nên được toà “miễn truy cứu”. Tương tự, trong phiên toà tại Sài Gòn các “tang chứng” về hành vi lật đổ nhà nước của 4 nhà trí thức đấu tranh cũng bị toà án dấu biệt. Chúng chỉ được nêu lên trong bản cáo trạng để kết án, và cũng không hề dám tranh biện về nội dung của các tang chứng đó.

Điều này tự nó đã tố cáo sự bối rối cùng cực của Hà Nội trong việc đối phó với những phương thức đấu tranh hợp pháp và đầy chính nghĩa của các nhà dân chủ. Do đó họ phải xử vội vã, lấp liếm cho xong. Toà án lẽ ra là nơi để lập lại công lý, nhưng với toà án cộng sản Việt Nam thì ngược lại. Bởi vậy, dư luận quốc tế phê phán đó là các phiên toà “nhạo báng công lý” là hoàn toàn chính xác.

Chuyện xử án theo kiểu tương tự cũng đã diễn ra ở Trung Quốc trước đó không lâu.

Vào cuối năm 2009, toà án Thành Đô, thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên đưa luật sư Đàm Tác Nhân (Tan Zuoren) ra xử và kết án ông 5 năm tù ở và 3 năm quản chế, về tội danh “âm mưu lật đổ chính quyền”, qua một số bài viết trước đây của ông về Phong trào Dân chủ và biến cố Thiên An Môn.

JPEG - 5.3 kb
LS Đàm Tác Nhân (Tan Zuoren), 5 năm tù ở và 3 năm quản chế.

Luật sư của Đàm Tác Nhân nói với các kỷ giả rằng, những bài viết về phong trào Dân chủ và biến cố Thiên An Môn chỉ là lớp khói che đậy ý đồ của nhà cầm quyền Trung Quốc. Đối với họ, ông Đàm Tác Nhân có tội chỉ vì ông đã đứng ra giúp đỡ nhiều gia đình có con cái bị thiệt mạng trong vụ động đất ở Tứ Xuyên năm 2008. Trong vụ động đất đó, các trường học đã bị xụp đổ một cách dễ dàng, làm thiệt mạng gần 19 ngàn học sinh. Lý do là vật liệu xây dựng trường ốc đã bị các quan chức tham nhũng rút ruột, các toà nhà trường học có phẩm chất xây dựng kém đến nỗi được gọi là những toà nhà “tàu hũ” và trở thành những cái bẫy sập, chỉ cần cơn địa chấn nhỏ là xụp đổ ngay. Ông Đàm Tác Nhân thiết lập danh sách các trẻ em nạn nhân, thu thập bằng chứng về vấn đề này và sắp sửa cho công bố thì bị bắt. Trước phiên toà xử luật sư Đàm Tác Nhân 2 ngày, toà án Trung Quốc cũng bác đơn kháng án của nhà dân chủ Hoàng Kỳ (Huang Qi). Ông Hoàng Kỳ cũng bị xử 3 năm tù về tội “tiết lộ bí mật nhà nước” trong một phiên toà vào tháng 11 năm ngoái, trong khi trên thực tế thì ông chỉ tìm cách thu thập tài liệu về việc xây cất các ngôi trường ở Tứ Xuyên.

Ông Ngãi Vị Vị, kiến trúc sư hàng đầu của Trung quốc, người đã thiết kế vận động trường “tổ Chim” (nơi làm lễ khai mạc Olympic Bắc Kinh), cũng bị chế độ cho vào sổ đen, chỉ vì dám lên tiếng phê phán nhà nước Bắc Kinh muốn che dấu thông tin liên quan đến trận động đất ở Tứ Xuyên. Vị kiến trúc sư này tưởng rằng Thủ tướng Ôn Gia Bảo là người thật lòng muốn cải cách, nên khi đến dinh Thủ tướng để nhận huân chương tưởng thưởng công lao và tài năng trong việc xây vận động trường Tổ Chim, ông đã thỉnh nguyện ông Ôn Gia Bảo công bố danh sách các nạn nhân bị thiệt mạng, đặc biệt là các em học sinh bị đè chết trong những ngôi trường đổ nát. Đồng thời, ông cũng yêu cầu phải công bố họa đồ kiến trúc tất cả các ngôi trường bị sụp để tìm nguyên nhân, hầu cải thiện việc xây cất trường học về sau này. Ngay lập tức, thủ tướng Ôn Gia Bảo thay đổi thái độ từ niềm nở sang lạnh nhạt. Biết lãnh đạo muốn che dấu sự thật, dù thỉnh nguyện thêm cũng vô ích, nên ông Ngãi Vị Vị quyết định đứng ra kêu gọi bạn bè tham gia cuộc điều tra để lập danh sách các nạn nhân và những trường học bị sụp đổ. Thế là ông bị công an hăm dọa ngay sau khi trang mạng nhật ký (blog) của ông đăng tải những điều mà ông và bạn bè đã thu thập được. Vì tiếng tăm của ông Ngãi Vị Vị quá lớn nên chính quyền Bắc Kinh không dám bắt ông bỏ tù, mà chỉ ghi vào sổ đen, và thường xuyên bị công an hay những băng đầu gấu do công an thuê đến hăm dọa .

Phiên tòa xử luật sư Đàm Tác Nhân cũng vội vã và trí trá như những phiên toà của CSVN xử các nhà đấu tranh, và cũng không hề dám xét đến những tang chứng thực sự. Mặc dù công an phong tỏa khu tòa án rất nghiêm ngặt từ sáng sớm, nhưng vẫn có trên 200 dân oan khiếu kiện kéo đến phản đối phiên xử án này.

Hiện nay, các toà án rừng rú của hai nước cộng sản Việt Nam và Trung Quốc nhất thời có thể đàn áp được những người đi tìm sự thực và đấu tranh cho công bằng, công lý. Nhưng về lâu về dài họ sẽ không thể nào dập tắt được các cao trào đấu tranh một khi người dân đã nắm bắt và áp dụng được những phương thức đấu tranh bất bạo động. Vụ xử án giáo dân Thái Hà, toà án Hà Nội đã phải nhục nhã lùi bước trước số lượng đông đảo và sự nhất trí của người dân phản đối một cách công khai. Đây chính là yếu tố đầu tiên trong những bước của đấu tranh bất bạo động để đưa đến thành công.

— –

(*) Ghi chú: Thời gian trước phiên toà xử cô Phạm Thanh Nghiên, dùng Google tìm trên internet bằng nhóm từ “Phạm Thanh Nghiên” người ta tìm được khoảng 4 triệu 2 trăm ngàn kết quả. Dù có loại bỏ đi những kết quả không chính xác vì sự trùng lập tên, chữ, thì trường hợp của cô Phạm Thanh Nghiên chắc chắn cũng đã được phổ biến vô cùng rộng rãi trên internet .

Next Page »

Blog at WordPress.com.
Entries and comments feeds.