Nhìn lại 20 năm

6 November, 2009 at 9:36 am | In Uncategorized | Leave a Comment

Lý Thái Hùng

Gửi cho BBCVietnamese.com từ Hoa Kỳ

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/world/2009/11/091104_berlin_wall_ly_thai_hung.shtml

Ông Lý Thái HùngTheo tác giả, tường Bá Linh sụp đổ trực tiếp giúp cho ‘cơn bão dân chủ’ toàn Đông Âu.

Cách đây 20 năm, khát vọng tự do dân chủ của người dân Ba Lan và Hungary đã tạo thành cơn bão dân chủ – qua những cuộc đình công, biểu tình từ hàng chục ngàn người rồi lên đến hàng trăm ngàn người, diễn ra liên tục từ cuối năm 1988 – đã làm tê liệt toàn bộ xã hội, đẩy các chế độ Cộng sản tại đây rơi vào thế tiến thoái lưỡng nan và tan rã quyền lực vào giữa năm 1989.

Nếu như cơn bão dân chủ này chỉ dừng lại ở hai quốc gia nói trên và không thổi đến Đông Đức – đẩy sập bức tường Bá Linh vào ngày 9 tháng 11 năm 1989 – có lẽ đã không tạo ra hai biến chuyển ngoạn mục của hậu bán thế kỷ 20. Đó là sự sụp đổ của khối cộng sản quốc tế Liên Xô và sự chấm dứt chiến tranh lạnh vào năm 1991.

Lúc đó, tuy các biến cố chính trị xảy ra dồn dập ở Ba Lan và Hungary; nhưng ít ai nghĩ là toàn thể Đông Âu sụp đổ mau lẹ như vậy, khi mà chính quyền Honecker của Đông Đức còn mạnh và cương quyết không áp dụng chính sách tái phối trí hay cải tổ của Liên Xô.

Nhưng khi ông Gorbachev khuyến cáo ông Honecker phải thay đổi đường lối và sau khi 17 ngàn người dân Đông Đức chạy trốn qua Tây Đức vào cuối tháng 9 năm 1989, tình hình Đông Đức đã đột biến, khiến cho chính quyền Honecker không còn có thể kiểm soát tình hình.

Chính sự phá đổ bức tường Bá Linh đã dẹp hết tất cả mọi chướng ngại, giúp cho cơn bão dân chủ đổ ập lên toàn thể Đông Âu.

Sau năm 1989, cơn bão dân chủ Đông Âu còn gợi lên một sự hưng phấn cho người dân ở một số quốc gia độc tài khác, lần lượt đứng lên đòi tự do dân chủ, tạo thành những cuộc cách mạng Màu tại Cộng hòa Serb (2000), Cộng hòa Georgia (2003), Cộng hòa Ukraine (2004), Cộng hòa Kyrgystane (2005) và Lebanon (2005).

Diễn tiến đưa đến những cuộc cách mạng nói trên hoàn toàn khác nhau. Chính những khác biệt về lịch sử, văn hóa, phong thổ, trình độ kinh tế và nhất là ý thức cải tổ chính trị của thành phần lãnh đạo tại các quốc gia, đã làm cho cuộc cách mạng ở mỗi nước có những nét đặc thù riêng.

Căn nguyên

Bức tường Bá LinhNgười dân Đông Đức trong ngày tường Bá Linh sụp đổ

Tuy nhiên, nhìn vào bản chất của các biến động chính trị tại Đông Âu vào lúc đó, người ta thấy hầu hết xuất phát từ bốn căn nguyên:

Thứ nhất là do những bất đồng quan điểm trong các chính sách cải tổ đã dẫn đến tình trạng phân liệt trong hàng ngũ lãnh đạo, khiến cho hầu hết các đảng Cộng sản đều lúng túng đối phó, trước những đòi hỏi cải cách chính đáng của quần chúng và của các khuynh hướng đối lập.

Thứ hai là sự bất mãn của người dân đã biểu hiện thành những phản kháng, dẫn đến tình trạng bất phục tùng dân sự với sự xuất hiện nhiều tổ chức ngoài luồng, những tổ chức đối lập đã khiến cho các cơ quan, đoàn thể của chế độ độc tài không còn khả năng kiểm soát người dân.

Thứ ba là tình trạng cải cách nửa vời đã tạo ra những bất ổn xã hội, dẫn đến những biến động chính trị với sự bùng phát những chống đối của quần chúng ngày một lan rộng và xuất hiện đa diện trên toàn quốc, vượt ra ngoài khả năng ứng phó của các lực lượng bảo vệ chế độ, từng bước làm tê liệt mọi sinh hoạt quốc gia.

Khát vọng tự do dân chủ đã phục sẵn trong lòng tất cả những con người sống dưới những thể chế độc tài

Thứ tư là những áp lực của quốc tế trên mặt nhân quyền, tự do dân chủ lên các chính quyền cộng sản trong tiến trình mở rộng giao thương buôn bán, đã phần nào làm chùn bước những đòn khủng bố của đảng cầm quyền, đồng thời gián tiếp hỗ trợ sức phản kháng của các cá nhân hay các tổ chức đối kháng.

Ngoài bốn căn nguyên nói trên, điều mà ai cũng thấy rõ là nền tảng đưa đến sự thắng lợi của cuộc cách mạng dân chủ tại Đông Âu vào năm 1989 và tại các cuộc cách mạng Màu vào đầu thế kỷ 21, đến từ hai điểm quan trọng:

Một là khát vọng tự do dân chủ đã phục sẵn trong lòng tất cả những con người sống dưới những thể chế độc tài. Chính khát vọng này đã thôi thúc mọi người xuống đường và chấp nhận những đòn trấn áp của nhà cầm quyền để từng bước mở rộng vòng liên kết với nhau.

Hai là phương thức đấu tranh bất bạo động đã được các phong trào dân chủ ở mọi quốc gia sử dụng để đối đầu với bạo lực.

Năm nguyên tắc căn bản của đấu tranh bất bạo động gồm: mọi hành động đều phải công khai; mọi tụ tập phải quy tụ số đông;

Luôn luôn duy trì kỷ luật để tránh hiên tượng xé rào; sẵn sàng chấp nhận đối thoại với chính quyền nhưng không bao giờ nhượng bộ mục tiêu đòi hỏi và kiên quyết tranh đấu đến cùng.

Câu hỏi

Trung Quốc vẫn duy trì kiểm soát về chính trị

Câu hỏi đặt ra là tại sao các chế độ Cộng sản tại Á Châu, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc vẫn còn tồn tại trong 20 năm qua, kể từ từ khi biến cố Đông Âu xảy ra?

Đông Âu và Á Châu rất khác nhau về lịch sử, phong thổ, văn hóa và con người. Hầu hết các quốc gia cựu cộng sản tại Đông Âu đều là những nước đã ít nhiều trải qua các cuôc cách mạng kỹ nghệ và bị Liên Xô áp đặt chủ nghĩa cộng sản từ sau Thế chiến thứ Hai.

Trong khi đó, Trung Quốc và Việt Nam là hai nước nông nghiệp lạc hậu, sinh hoạt xã hội còn đậm nét phong kiến và chủ nghĩa cộng sản đi vào hai nước này do một số người Trung Quốc, Việt Nam cuồng tín đem áp đặt lên toàn xã hội. Vì thế mà khi Đông Âu bùng dậy, đa số người dân Việt Nam và Trung Quốc không mấy quan tâm về biến động này.

Rất có thể những vết loang biến thái thành những phong trào đối kháng như những gì từng chứng kiến tại Đông Âu cách đây 20 năm

Hai mươi năm qua, Việt Nam và Trung Quốc đã mở cửa kinh tế và xã hội, có rất nhiều thay đổi. Nhà cầm quyền Trung Quốc và Việt Nam đã nghiên cứu và rút tỉa rất nhiều bài học từ biến cố Đông Âu, nhất là cố gắng ‘giữ kín’ những xung khắc ở thượng tầng để giữ bộ mặt “thống nhất” giả tạo trong hàng ngũ lãnh đạo.

Không những thế, nhờ đổi mới đi theo công thức kinh tế thị trường của phương Tây, Việt Nam và Trung Quốc đã thành công trong việc thu hút đầu tư ngoại quốc, đẩy lùi các áp lực suy thoái kinh tế và phần nào đã nâng cao mức sống của người dân so với 20 năm trước đây.

Xã hội Việt Nam và Trung Quốc hiện có mức phát triển không thua kém gì so với các xã hội Đông Âu khi đó.

Tuy nhiên, những nan đề mà Trung Quốc và Việt Nam đang dối diện như chênh lệch giàu nghèo, ô nhiễm môi trường, tham ô nhũng lạm, giáo dục suy thoái… không khác gì mấy so với các nan đề mà các nước Đông Âu đã đối phó và thất bại 20 năm trước.

Sóng ngầm

Giáo dân trong vụ Tam TòaGiáo dân hiệp thông trong vụ Tam Tòa

Nói cách khác, nếu vào thời điểm đó, xã hội Việt Nam và Trung Quốc hoàn toàn bất động trước cơn bão dân chủ thổi mạnh mẽ đến Đông Âu, thì nay, những đợt sóng ngầm của trào lưu dân chủ hóa đang chuyển động trong xã hội Việt Nam và Trung Quốc.

Người ta có thể không đồng ý rằng những gì đã xảy ra ở Đông Âu sẽ lặp lại tại Việt Nam hay Trung Quốc; nhưng chắc chắn một điều là khát vọng tự do dân chủ của người Việt Nam, Trung Quốc không thua kém Đông Âu.

Và đấu tranh bất bạo động đã trở thành phương thức đối kháng hữu hiệu đáng được các lực lượng dân chủ tại Việt Nam và Trung Quốc áp dụng và phổ biến rộng rãi trong nhiều năm qua.

Chính hai yếu tố này đang góp phần tạo ra những động thái chính trị tại Việt Nam và Trung Quốc trong vài năm trở lại đây.

Riêng tại Việt Nam, những biến cố gần đây như Nhà Chung, Thái Hà, Tam Tòa, Bát Nhã tại Lâm Đồng, một số trí thức tự giải thể Viện Nghiên Cứu Phát Triển (IDS) để phản đối Quyết Định 97; hơn 4 ngàn trí thức, sinh viên, văn nghệ sĩ ký tên vào Kiến nghị chống khai thác Bauxite tại Tây Nguyên, Luật sự Cù Huy Hà Vũ kiện Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng về quyết định cho khai thác Bauxite v.v… đã là những diễn biến đang làm cho nhà cầm quyền Việt Nam lúng túng.

Điều mà ai cũng thấy rõ là nhà cầm quyền Việt Nam đã không giải quyết nổi, nên những biến cố nói trên chắc chắn sẽ lập lại như vết dầu loang ở nhiều nơi.

Và kinh nghiệm cho thấy là rất có thể những vết loang này sẽ biến thái thành những phong trào đối kháng như loài người đã từng chứng kiến những biến động dây chuyền từ nhỏ lên lớn tại Đông Âu cách đây 20 năm.

Ông Lý Thái Hùng là Tổng Bí thư đảng Việt Tân, trụ sở tại San Jose, Hoa Kỳ. Ông cũng là tác giả tập biên khảo “Đông Âu Tại Việt Nam,” tổng kết sự kiện sụp đổ của các quốc gia cộng sản tại Đông Âu năm 1989. Bài viết phản ánh quan điểm riêng của tác giả.

Chúi đầu vào đống cát để khỏi nhìn thấy bế tắc

5 November, 2009 at 9:10 am | In Uncategorized | Leave a Comment

Thông Luận

Trong tháng 10 vừa qua hai cuộc họp đáng lẽ rất quan trọng đã diễn ra một cách rất nghịch lý mà hầu như không ai để ý: Hội nghị Trung Ương của đảng CSVN khoá họp thường lệ của Quốc hội.

Hội nghị Trung ương 11, khoá 10, của ĐCSVN diễn ra trong một thời điểm nghiêm trọng: chuẩn bị đại hội 11 vào giữa lúc mô thức kinh tế sao chép của Trung Quốc phải xét lại toàn bộ, sinh hoạt kinh tế xã hội bế tắc, nhiều vấn đề nghiêm trọng trì hoãn quá lâu đã đến lúc phải giải quyết. Thêm vào đó đảng hoàn toàn thiếu vắng những khuôn mặt lãnh đạo chấp nhận được cho đa số đảng viên, chưa nói tới lãnh đạo đất nước. Tuy vậy nó đã rất âm thầm, không có gì được thông báo cả ngoại trừ hai bài diễn văn khai mạc và bế mạc của tổng bí thư Nông Đức Mạnh và một bản thông báo hết thúc hội nghị.

Cả ba văn kiện này đều không nói gì cả, chúng đều là những tài liệu rỗng. Tuy vậy chúng vẫn tố giác sự bế tắc tuyệt vọng. Tổng bí thư Nông Đức Mạnh nói: “phải đánh giá đúng thành tựu, yếu kém, thực chất tình hình tư tưởng trong Đảng” và “đề nghị các đồng chí phát huy tinh thần dân chủ, suy nghĩ độc lập và sáng tạo“. Như thế có nghĩa là tư tưởng chính trị của đảng CS đang ở trong tình trạng rất bi đát đòi hỏi phải được xét lại triệt để. Nhưng ngay sau đó ông lại nhấn mạnh “phải kiên định chủ nghĩa xã hội; kiên định chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định vai trò lãnh đạo của Ðảng“. Vậy thì xét lại cái gì? Suy nghĩ độc lập, sáng tạo ở chỗ nào? Những lời tuyên bố ngớ ngẩn một cách khôi hài như vậy của người lãnh đạo cao nhất ngay giữa một hội nghị trung ương đảng là một thú nhận hùng hồn rằng đảng cộng sản biết mình bế tắc nhưng không nhìn thấy giải pháp nào khác ngoài tiếp tục chúi đầu vào đống cát để khỏi nhìn thấy sự thực. Chúng đã không làm ai phì cười, vì không ai, kể cả đại đa số các đảng viên cộng sản, còn để ý đến những gì đến những gì mà lãnh đạo đảng nói và làm.

Điều 83 của Hiến Pháp Nước Cộng Hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam

Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp.

Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân.

Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước.

Kỳ họp quốc hội thứ 6, khoá 12, là một mẫu mực của sự vô duyên nhàm chán. Báo chí đưa tin đại biểu này kiến nghị, đại biểu kia đề nghị v.v. Nhất là “uỷ ban tài chính quốc hội dứt khoát đề nghị” giảm tỉ lệ bội chi ngân sách nhưng buổi họp đã “kết thúc sớm” sau khi ông bộ trưởng tài chính tuyên bố chính phủ vẫn bảo lưu ý kiến. Những sự kiện này chẳng ai để ý dù chúng rất kỳ cục: quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất, có quyền quyết định ngân sách, có cả quyền bổ nhiệm và bãi nhiệm chính phủ mà lại chỉ dám đề nghị và kiến nghị với chính phủ, và thôi họp khi chính phủ cho biết đã quyết định xong.

Người ta không để ý là đúng vì còn có những điều trâng tráo hơn nhiều. Khoá họp quốc hội này mở ra chỉ 11 ngày sau bốn vụ án chính trị thô bỉ trong đó chín công dân vô tội bị xử những án tù nặng một cách dã man chỉ vì treo những biểu ngữ kêu gọi bảo vệ sự vẹn toàn của lãnh thổ, chống tham nhũng và thực hiện dân chủ, những lập trường mà chính nhà nước cộng sản cũng đã nhiều lần phát biểu. Đây là một hành động chà đạp trắng trợn lên chính luật pháp và một sự thoá mạ đối với chính quốc hội, định chế trên danh nghĩa làm ra và bảo vệ luật pháp. Tuy vậy quốc hội đã không hề có phản ứng nào và cũng không hề có bất cứ một “đại biểu quốc hội” nào lên tiếng.

Không còn ai ngạc nhiên, dù để nổi giận hay phì cười, trước những sự kiện vô lý một cách khôi hài như vậy vì một lý do giản dị: sự ly dị giữa dân chúng và chính quyền đã toàn diện và tuyệt đối.

Các chính quyền bạo ngược đều giống nhau ở một điểm là chúng yên tâm khi người dân thờ ơ mà không cần biết rằng sự thờ ơ đó che giấu một căm thù đang sôi sục. Chúng đều đánh giá thấp nhân dân. Chúng cũng giống nhau ở một điểm khác là không hối tiếc sau đó, vì không kịp hối tiếc.

Nguồn: www.thongluan.org

Trí thức bất khuất trước bạo quyền

4 November, 2009 at 10:54 am | In Bình luận: Ngô Nhân Dụng | Leave a Comment

Ngô Nhân Dụng

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=103431&z=7

 

Ðời nay nói đến Hy Lạp người ta có thể không biết đến Vua Dionysius, nhưng phần lớn người có học đều biết các triết gia Socrate, Platon, Pericles, biết các nhà khoa học Euclide hay Archimede! Vua Dionysius I ngự trị ở thành Syracuse (ở phía Nam đảo Sicily bây giờ) vào thế kỷ thứ tư trước Công nguyên. Ngày nay người ta còn nhắc đến ông không phải vì những cuộc chinh phạt, những chiến công, mà vì ông đã thất bại khi muốn đàn áp giới trí thức đương thời.

Sử chép về Vua Dionysus I có những chuyện liên can đến giới trí thức và văn nghệ. Những người nghiên cứu khoa học, triết lý hoặc viết văn, làm báo thời nay nếu phải sống dưới các chế độ độc tài thường vẫn chịu sức ép phải uốn cong ngòi bút theo lệnh các “lãnh tụ anh minh.” Rất nhiều người can đảm chống lại, nhưng đa số thì chịu thua, vì miếng cơm manh áo; vả lại họ không biết chọn nghề nào khác kiếm ăn. Vua Dionysius I cũng là một người sính làm thơ, không khác gì các ông Mao Trạch Ðông, Hồ Chí Minh thời họ nắm quyền sinh sát. Một hôm Dionysius đưa cho thi sĩ Philoxenus coi một tác phẩm mới của ông để chia sẻ.

Philoxenus lại mang tánh hay nói thật; ông nói thẳng, chê là thơ của nhà vua chẳng ra ngô ra khoai gì cả. Nhà thơ thành thật khuyên nhà vua đừng bao giờ làm thơ nữa. Giận quá, Dionysius ra lệnh bắt giam Philoxenus, cho đi lao động cải tạo ở một công trường khai thác đá. Chắc ở đó toàn những đá thì nhà thơ có dịp dùi mài khả năng phê bình thơ vua.

Ngày hôm sau, Dionysius lại mời Philoxenus vào hoàng cung dự tiệc để coi nhà thơ đã được cải tạo tư tưởng hay chưa. Tiệc chiêu đãi văn nghệ sĩ tất nhiên là vui lắm, đại khái quý vị có thể tưởng tượng được, đủ các thứ sơn hào hải vị, có văn công giúp vui, vũ nữ ra múa may, chắc cũng tổ chức cả thi hoa hậu nữa! Sau khi đã uống rượu khá nhiều, thi hứng của nhà vua lại nổi lên, không cách nào cản được. Ông đứng dậy ngâm một bài thơ mới sáng tác. Ðọc thơ xong, vua Dionysius quay lại nhìn thi sĩ Philoxenus, hỏi: “Sao, ông thấy bài thơ mới thế nào?” Philoxenus đứng dậy nghiêng mình, cúi chào ông vua để tỏ vẻ kính trọng. Rồi ông lững thững đi ra bảo tên lính đeo gươm hầu phụ trách an ninh: “Chú làm ơn đưa tôi trở về hầm đá!”

Tại Việt Nam ngày nay, hôm 14 Tháng Chín năm 2009, Viện Nghiên Cứu Phát Triển (IDS), một viện nghiên cứu độc lập gồm các trí thức hàng đầu Việt Nam, đã tự động giải thể để phản đối Quyết Ðịnh 97 của chính phủ Nguyễn Tấn Dũng. Hành động đó cũng giống như việc Philoxenus từ bỏ bữa tiệc của vua Dionysus để trở về làm công tác đập đá!

Những người trí thức tự trọng không thể chấp nhận việc kiểm soát tư tưởng. Nhất là người làm công việc nghiên cứu khoa học. Mục đích của khoa học là đi tìm sự thật, những sự thật khách quan, độc lập đối với tín ngưỡng và chính trị. Quyết Ðịnh 97 buộc các bài phản biện của giới khoa học phải trình cho các cơ quan nhà nước trước khi công bố. Ðây là một hành động phản khoa học, phản dân chủ, vì chính quyền cộng sản không cho phép người trí thức được phép nghiên cứu độc lập. Cấm việc nghiên cứu độc lập và khách quan là phản tiến bộ, đặc biệt trong các đề tài liên can đến phát triển kinh tế và xã hội rất cần thiết cho đất nước bây giờ.

Người trí thức muốn nói thật thì rất khó sống dưới ách độc tài, dù là chế độ quân chủ chuyên chế ngày xưa hay là chế độc đảng chuyên chính vô sản và vô học thời nay.

Một tháng sau, ngày 14 Tháng Mười, chính phủ Nguyễn Tấn Dũng lại ra một thông báo kết luận rằng việc ban hành Quyết Ðịnh 97 “là cần thiết, phù hợp với Hiến Pháp, pháp luật Việt Nam.” Không những thế, bản thông báo đe dọa giao Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Hà Nội “xử lý những phát biểu thiếu tinh thần xây dựng của một số cá nhân thuộc Viện Nghiên Cứu Phát Triển.” Coi như các nhà trí thức danh tiếng nhất Việt Nam bị dọa có thể được “điều đi” làm công tác nghiên cứu ở hầm đá!

Tiến Sĩ Nguyễn Quang A, nguyên viện trưởng IDS nói, “Thông báo của văn phòng chính phủ có những lời lẽ đe dọa chúng tôi” và ông vẫn tiếp tục phê phán “Quyết Ðịnh 97 vi phạm nghiêm trọng luật pháp Việt Nam!” Tuyên bố như vậy cũng không khác gì nhà thơ Philoxenus ngày xưa đã bị trừng phạt rồi vẫn tiếp tục chê thơ của ông vua không ngửi được!

Giới trí thức thời xưa và thời nay đều là kẻ thù của các chế độ độc tài. Vì nhu cầu tự nhiên nhất của họ là được tự do suy nghĩ, tự do phát biểu.

Trong Tháng Mười, chính quyền Nguyễn Tấn Dũng lại đưa nhiều nhà trí thức Việt Nam “đi hầm đá” nữa. Tổng cộng có chín người bị bắt từ năm ngoái, nay bị đưa ra tòa tại Hải Phòng với cùng một tội danh: “lưu trữ, phát tán những tài liệu vu khống chế độ, sau đó chụp hình và phát tán lên mạng Internet.” Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, 60 tuổi, bị án nặng nhất đến 6 năm tù giam và 4 năm quản chế tại gia vì “vai trò lãnh đạo.”

Cũng trong Tháng Mười tại Hà Nội, ông Phạm Văn Trội, 37 tuổi, xử 4 năm tù giam và 4 năm quản chế tại gia. Nhà văn Vũ Hùng cũng bị 3 năm tù giam và 3 năm quản chế vì vi phạm Ðiều 88. Nhà thơ Trần Ðức Hạnh, 57 tuổi, hội viên Hội Nhà Văn Nghệ An bị xử án tù giam 3 năm và 3 năm quản chế.

Những nhà trí thức ở Hy Lạp thời xưa cũng như ở Việt Nam ngày nay có thể “đứng vững không khỵu chân” để bảo vệ lương tâm và sự thật vì họ biết rằng sau cùng lịch sử sẽ ghi nhớ đến họ. Và ngay trong cuộc đời của họ, họ sống thanh thản vì được mọi người kính trọng và yêu thương. Còn những anh đóng vai độc tài chuyên chế, sau cùng lịch sử sẽ ghi tên trong sổ đen. Mà ngay khi còn sống họ cũng không được ai thành thật yêu thương hay kính trọng, trừ những kẻ nịnh thần!

Ngay xưa, Vua Dionysius bỏ tù Phintias, một triết gia phái Pythagore, sau cùng xử ông bị tử hình vì những tội “phản biện” làm hại uy tín “chính quyền của nhân dân.” Trước khi chết, Phintias xin phép được về thăm gia đình. Nhưng làm thế nào để bảo đảm là triết gia không đi trốn và sẽ trở lại thọ hình? Triết gia vốn nghèo khó, lấy vàng bạc, của cải đâu để làm vật thế chân? Một người bạn của Phintias là Damon đã tự mình xin làm “bail bond,” vào ngồi tù thế mạng, nếu Phintias trốn thì Damon sẽ chết thay. Sau khi thăm nhà rồi, Phintias lại trở vào nhà tù cho bạn mình được thả. Hành động của hai nhà trí thức làm cho ông vua Dionysius kinh ngạc ngạc. Sống giữa đám nịnh thần và chỉ quen lừa gạt, dối trá ông không thể hiểu tại sao có những người bạn hết lòng với nhau như thế! Dionysius trả tự do cho Phintias xin được kết bạn với cả hai nhà hiền triết. Không biết làm bạn được bao lâu?

Nền văn minh Hy Lạp để lại rất nhiều di sản. Ngoài những tư tưởng triết lý, khoa học, các pho tượng dựng trong các hý trường rộng lớn, còn có cả một định chế xã hội gọi là chế độ Dân Chủ. Chế độ Dân Chủ ở Hy Lạp không được tiến bộ như hình thức mà nhân loại hiện đang thi hành; nhưng phải ghi công người Hy Lạp đã đặt nên một số nền tảng chính. Dân Hy Lạp đã quên những ông vua Dionysius mà còn nhớ Pericles. Người Việt Nam cũng sẽ có ngày quên đi cái chế độ độc tài đảng trị tham nhũng thối nát, mà chỉ nhớ đến những nhà trí thức đang tranh đấu cho đồng bào được hưởng cuộc sống dân chủ tự do. Ngày nay chúng ta vẫn ghi nhớ những Phan Châu Trinh, Nguyễn An Ninh, Khái Hưng, PhanVăn Hùm, đó là một truyền thống của giới trí thức trong dân tộc Việt Nam. Dù thời bình hay thời chiến, “nhưng hào kiệt đời nào cũng có”.

Tuyên Dương Vedan: Cá Tháng 10 Tại Việt Nam?

3 November, 2009 at 11:03 am | In Diễn Đàn Dân Chủ | Leave a Comment

Trung Điền

http://viettan.org/spip.php?article9160

Trong danh sách tuyên dương “100 sản phẩm an toàn vì sức khoẻ cộng đồng năm 2009”, Cộng sản Việt Nam đã vinh danh 3 sản phẩm của công ty Vedan, một công ty liên doanh của người Đài Loan đã từng thải hóa chất bừa bãi ra sông Thị Vải gây ô nhiễm và đe dọa môi trường sống cho hàng triệu người thuộc ba tỉnh Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Sài Gòn trong các năm vừa qua. Khi tin tức nói trên được loan tải trên báo chí, mọi người tưởng là chuyện đùa vì cho đến nay công ty Vedan vẫn từ chối bồi thường thiệt hại cho nông dân ba tỉnh lên đến 600 tỷ đồng, tương đương 34 triệu Mỹ Kim.

Công ty Vedan chuyên sản xuất bột ngọt và tinh chế bột, thức ăn gia súc, phân bón v.v… được thành lập vào năm 1991 tại xã Phước Thái, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Đến năm 1994, ngay sau khi đi vào hoạt động chính thức, công ty đã thải chất cặn bã gây ô nhiễm môi trường sông Thị Vải làm thuỷ sản chết hàng loạt. Cộng sản Việt Nam đã yêu cầu công ty Vedan ngưng hoạt động một thời gian để cải thiện ô nhiễm môi trường; nhưng chỉ ba tháng sau, công ty Vedan đã được phép hoạt động trở lại và tiếp tục gây ô nhiễm dòng sông Thị Vải.

Đến năm 2005, tình trạng ô nhiễm trên dòng sông Thị Vải ảnh hưởng đến việc nuôi trồng thủy sản của nông dân một cách trầm trọng; Cộng sản Việt Nam ra lệnh công ty Vedan xử lý ô nhiễm, nhưng công ty này chỉ chấp nhận bồi thường 15 tỷ đồng và tiếp tục hoạt động. Tháng 7 năm 2005, công ty Vedan bị xử phạt vi phạm hành chính 9 triệu đồng và được yêu cầu khắc phục ô nhiễm cũng như hoàn thành các công trình xử lý chất thải đạt tiêu chuẩn Việt Nam. Nhưng thay vì khắc phục ô nhiễm, công ty này đã thiết kế và lắp đặt hệ thống xả nước thải một cách tinh vi che mắt sự kiểm soát của nhà cầm quyền. Công ty Vedan đã lắp đặt hệ thống bơm nước thải sâu dưới đất dài 2,2 cây số và trụ bơm thoát nước được cắm sâu xuống sông Thị Vải đến 8 mét. Với sự che giấu này, tận dụng lúc trời tối, công ty đã xả nước thải chưa qua giai đoạn xử lý xuống sông, mỗi tháng tới 44,800 mét khối.

Sự che giấu của công ty Vedan nói trên đã bị phát hiện vào năm 2008. Cộng sản Việt Nam ra lệnh cho công ty này ngưng hoạt động, tháo gỡ toàn bộ hệ thống ống ngầm và nộp phạt vi phạm hành chính 267 triệu đồng. Cộng sản Việt Nam còn ra lệnh cho công ty Vedan bồi thường thiệt hại cho 11 ngàn đơn kiện của nông dân ba tỉnh với số tiền lên đến 600 tỷ đồng. Năm 2009, công ty Vedan tuyên bố rằng họ sẽ dời công ty sang nước khác nếu không cho tiếp tục hoạt động và không trả tiền bối thường 34 triệu Mỹ Kim theo như đề nghị của các nông dân ba tỉnh vì cho là quá cao và chỉ bồi thường ở mức 1 triệu 400 ngàn Mỹ Kim mà thôi.

Trong khi vụ án của công ty Vedan chưa ngã ngũ thì ban tổ chức giải thưởng “100 sản phẩm an toàn vì sức khoẻ cộng đồng” lại công bố công ty này có ba sản phẩm gồm Bột ngọt Vedan, Vedan hạt nêm thịt heo và tinh bột biến đổi. Được biết, những công ty muốn tham gia để được tuyên dương thì phải ký hợp đồng, hỗ trợ ban tổ chức tổng cộng 30 triệu đồng để gọi là “phục vụ công tác tổ chức, xét tặng, truyền thông và lễ tuyên dương giải thưởng”. Ban tổ chức giải thưởng này do Trung tâm tư vấn phát triển thương hiệu và chất lượng thành phố Sài Gòn chủ trì cùng với sự tham vấn của Bộ khoa học công nghiệp, Bộ y tế, Bộ công thương. Với sự liên hệ của ba bộ quan trọng trong vấn đề sản xuất các sản phẩm tiêu thụ, ban tổ chức giải thưởng có một ảnh hưởng rất lớn lên các công ty liên hệ.

Nhưng khi tin tức ba sản phẩm của công ty Vedan được tuyên dương loan tải vào chiều ngày 26 tháng 10 thì dư luận đã nổi lên làn sóng phản đối rất mạnh mẽ, khiến cho ông Ngô Quý Việt, tổng cục trưởng tổng cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng đã phải họp báo cho rằng việc trao giải thưởng cho Vedan là sai sót của ban tổ chức. Trước áp lực này, Bộ y tế cũng đã ra quyết định tạm đình chỉ công tác của ông Hoàng Thủy Tiến, cục phó cục an toàn vệ sinh thực phẩm, người đã ký vào bản tuyên dương 3 sản phẩm công ty Vedan. Bộ khoa học công nghệ thì ra chỉ thị cho ban tổ chức phải thu hồi lại giấy tuyên dương đã cấp cho công ty Vedan. Nhưng đại diện công ty Vedan phản đối cho rằng họ không trả lại giải thưởng vì khi bình chọn giải thưởng phải có những tiêu chỉ cụ thể cho từng loại sản phẩm, và bây giờ rút lại cũng phải có tiêu chỉ đàng hoàng.

Công ty Vedan đã dùng tiền để mong xóa tội lỗi của họ đối với công chúng Việt Nam qua các quan tham ở Sài Gòn.

Trong khi đó, đại diện cho ban tổ chức giải thưởng là ông Bùi Văn Quyền (Bộ Khoa học công nghệ) nói rằng trong đêm trao giải thưởng không có trao cho công ty Vedan và đại diện công ty Vedan chỉ lên sân khấu ủng hộ tiền cứu trợ nạn nhân bão lụt miền Trung. Bà Nguyễn Thị Sinh, giám đốc Trung tâm tư vấn phát triển thương hiệu và chất lượng tại Sài Gòn và cũng là Trưởng ban tổ chức giải thưởng, thì đỗ lỗi do sai sót của nhân viên đánh máy đã nhầm lẫn khi đưa danh sách đề cử và danh sách doanh nghiệp đoạt giải lên trang web. Trong khi đó, ông Yeh Sheau Yeh, giám đốc công ty Vedan thì khẳng định là họ được nhận 3 chứng chỉ tuyên dương ba sản phẩm từ ban tổ chức.

Những loay hoay giải thích và phủi tay trách nhiệm của cán bộ Cộng sản Việt Nam liên quan đến việc cấp 3 chứng chỉ tuyên dương công ty Vedan đã cho thấy ra ba điều:

Thứ nhất là con vi khuẩn coi thường dư luận của những cán bộ trách nhiệm liên quan đến những vấn đề sức khoẻ của người dân đã ở mức miễn nhiễm. Họ có thể giải thích bất cứ những lý do gì để chạy tội cho họ. Bà Nguyễn Thị Sinh, trưởng ban tổ chức giải thưởng đã phủi tay khi đổ lỗ lỗi cho người đánh máy giống như trường hợp Đào Duy Quát đã đổ lỗi cho cậu thanh niên đánh máy khi đưa bản tin ca ngợi hải quân Trung Quốc tập trận ở Hoàng sa.

Thứ hai là hệ thống tham nhũng chằng chịt trong các cơ chế. Mỗi công ty muốn tham gia vào việc bình chọn phải đóng cho ban tổ chức 30 triệu. Công ty Vedan chắc chắn đã phải đóng một số tiền gấp nhiều lần để không chỉ được ghi vào danh sách đề cử, mà còn được nhận 3 chứng chỉ chứng nhận ở phía sau hậu trường, do đại diện Bộ y tế ký. Công ty Vedan đã dùng tiền để mong xóa tội lỗi của họ đối với công chúng Việt Nam qua các quan tham ở Sài Gòn.

Thứ ba là lễ trao giải thưởng diễn ra tối ngày 11 tháng 10, nhưng đến hai tuần sau mới công bố lên báo chí (26/10), cho thấy là ban tổ chức muốn đặt dư luận vào chuyện đã rồi trong sự đồng tình của cán bộ lãnh đạo các Bộ. Nghĩa là họ mua thời gian để không tạo cho dư luận quan tâm ngay vào kế hoạch “bán giải thưỏng” của ban tổ chức cho công ty Vedan. Nhưng điều mà Cộng sản Việt Nam không ngờ là sức mạnh của truyền thông ngoài luồng đã góp phần kích lên sự phẫn nộ của dư luận, khiến cho chế độ không thể làm ngơ các tội ác của ban tổ chức giải thưởng.

…Cộng sản Việt Nam càng ngày càng đối diện với những phanh phui của dư luận về những sai trái của chính họ mà không còn có thể che giấu hoặc bưng bít như trước đây.

Tóm lại, qua vụ án Vedan cho chúng ta thấy là Cộng sản Việt Nam càng ngày càng đối diện với những phanh phui của dư luận về những sai trái của chính họ mà không còn có thể che giấu hoặc bưng bít như trước đây. Đây chính là những diễn biến mang tính “tự diễn biến” trong hệ thống độc tài mà họ đã không chịu nhìn ra, cứ đi đổ lỗi cho các thế lực thù địch bên ngoài kích động. Vụ án Vedan, như nhận xét của đại biểu quốc hội Nguyễn Đỉnh Xuân là chuyện đùa dai của chế độ, ngu xuẩn tới độ người ta tưởng Ngày Cá Tháng Tư (April Fool’s Day) đang xảy ra vào tháng 10 tại Việt Nam.

Trung Điền
Ngày 28/10/2009

Phận thằng dân trong chế độ!

1 November, 2009 at 12:00 am | In bán nguyệt san Tự do Ngôn luận | Leave a Comment

Phận thằng dân trong chế độ!

Xã  luận bán nguyệt san Tự  do Ngôn luận số 86 (01-11-2009)

Thi hào Nguyễn Chí Thiện từng có bài thơ «Lý tưởng» như sau : «Lý tưởng, quang vinh, mộng tình, lẽ sống. Chuyện trên trời dưới biển xa xôi! Thú thực là dân đói chúng tôi. Chỉ mơ ước được no bằng con vật. Vì giấc mơ được làm con người đã mênh mông, không thành sự thật. Lại rũ tù cả lũ như chơi! Gạo, sắn, ngô, khoai, tứ chướng trên đời. Quấn chặt, rối bời, điêu đứng!» Được sáng tác năm 1971, bài thơ nay vẫn còn đậm tính thời sự. Vì còn hàng triệu nông dân Việt Nam trồng ra lúa gạo nhưng vẫn bần cùng ; hàng triệu công nhân làm ra sản phẩm nhưng vẫn thường xuyên ăn đói, chỉ mơ ước no bằng con vật nuôi trong nhà cán bộ. Nhưng nhất là giấc mơ được làm con người đối với tuyệt đại đa số dân Việt vẫn cứ mênh mông, không thành sự thật nổi. Bởi lẽ cho đến giờ phút này, thằng dân trong chế độ ưu việt này vẫn cứ phải mang thân phận con cái, con ở, con nợ, và con bài. Xin nêu những thí dụ gần đây :

1- Con cái : Khi tự mình viết cuốn «Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ chủ tịch» năm 1948, Hồ Chí Minh (dưới bút hiệu Trần Dân Tiên) đã tự xưng là Bác và là Cha già Dân tộc. Theo tinh thần này, đảng của ông ta luôn tự đặt mình làm «phụ mẫu chi dân» và coi nhân dân như con cái : cha mẹ cho gì thì nhờ nấy, không được đòi hỏi (cơ chế «Xin-Cho»); phán bảo sao thì nghe nấy, không được phê bình ; sửa trị sao thì chịu nấy, không được cãi lại. «Đảng là chân lý, là đạo đức, văn minh», «Nghe theo đảng, nói theo đài» là thứ «Gia huấn ca» mới mà CS buộc nhân dân phải học thuộc. Chính hai đại diện cỡ bự của đảng đã từng khẳng định điều ấy. Đó là Nguyễn Thị Hồng Ngát, cục trưởng cục điện ảnh : «Con cái không chê cha mẹ khó…» (trả lời phóng viên đài truyền hình ABC năm 2003), và Tôn Nữ Thị Ninh, nguyên Đại sứ Đặc mệnh Toàn quyền của VN tại Châu Âu : “Trong gia đình chúng tôi có những đứa con, cháu hỗn láo, bướng bỉnh thì để chúng tôi đóng cửa lại trừng trị chúng nó, dĩ nhiên là trừng trị theo cách của chúng tôi. Các anh hàng xóm đừng có mà gõ cửa đòi xen vào chuyện riêng của gia đình chúng tôi” (tuyên bố tại Câu lạc bộ Báo chí Quốc gia Hoa Kỳ tháng 10-2004, khi bị chất vấn về tình trạng vi phạm nhân quyền ở VN). Chính vì não trạng «đảng cha mẹ-dân con cái» như thế mà trong thời gian gần đây, cộng đồng hay chức sắc tôn giáo nào xin đất thì được cho, đòi đất thì bị đánh ; tập thể công dân nào âm thầm góp ý cho đảng thì ổn, nhưng muốn công khai phản biện thì bị bịt mồm (Quyết định 97-CP) ; tự giải thể để phản đối quyết định cha chú đó như Viện Nghiên cứu Phát triển thì sẽ bị xử lý không nương tay (Thông báo số 309/TB-VPCP) ; dám cãi lời «cha mẹ» mà động đến gia đình «bác Mao» thì lãnh những án tù dài ; đâm đơn kiện «bố» Thủ tướng thì bị trả đơn lui, còn được bảo là «gia pháp» không có quy định !!!

2- Con ở : Được coi là con cái khi đảng có việc cần sửa dạy, toàn dân lại bị xem là con ở khi đảng có việc cần đối xử, đối xử một cách vô nghĩa vô tình. Điển hình là thái độ im lặng của Hà Nội từ năm 2005 đến nay trước việc ngư dân bị Trung Cộng sách nhiễu, chặn đường, cướp bóc, bắn chết trên Nam Hải (việc lên tiếng gần đây của bộ ngoại giao CSVN, một tháng sau vụ đồng bào Quảng Ngãi bị cướp tài sản khi trú bão hôm 30-09, chỉ là hãn hữu, do sức ép của dư luận và chỉ đòi bồi thường thiệt hại chứ không dám nhân cơ hội khẳng định chủ quyền Hoàng Sa). Đang khi đó, theo tờ Quân đội Nhân dân, hôm 14-10, lúc nghe hai tàu đánh cá Trung Cộng bị bão đánh chìm ở khu vực gần đảo Bạch Long Vĩ, bộ tư lệnh Hải quân VN đã lập tức điều động 4 tàu tích cực tham gia tìm kiếm.

Các công nhân đi lao động nước ngoài tại Đài Loan, Malaysia, Jordan…, khi bị giới chủ nhân bản địa bóc lột, lừa gạt, chạy đến đại sứ quán hay lãnh sự quán VN kêu cứu thì bị làm ngơ, thậm chí bị hăm dọa, khiến cả viên chức chính quyền sở tại cũng ngạc nhiên và cuối cùng chỉ có đồng bào hải ngoại là ra tay bênh đỡ, cứu giúp họ. Những phiên xử thường dân mấy năm gần đây cũng chứng tỏ điều đó. Như tại Long An, ba thanh niên đã bị tòa kêu án 21 năm tù giam vì trộm 22 con vịt (Tiền Phong online 26-10-2007) ; tại Lâm Đồng, 3 nông dân «ăn cướp» 2 con vịt đã bị tòa án tuyên phạt 13 năm (Pháp Luật online 10-08-2009) ; còn tại huyện Đông Anh của Hà Nội, hai thanh niên đi dự sinh nhật về đã bị công an và phó thôn cùng dân quân du kích đánh chết tại chỗ vì nghi trộm chó (VNExpress 30-05-2009)… Đang khi đó những «con yêu» của đảng -vì đảng vẫn có một thứ con yêu- thì luôn được nhẹ tay khi phải đối diện với pháp luật. Một Vũ Huy Hoàng, bộ trưởng Công thương, chủ quản trang mạng Hợp tác Kinh tế Thương mại Việt-Trung, chuyên để mặc Trung Cộng trình bày quan điểm chính trị bất lợi cho đất nước suốt nhiều năm trời, vẫn cứ bình chân như vại sau khi báo chí phanh phui vụ việc tháng 5-2009. Một Đào Duy Quát, phụ trách trang mạng của Đảng, thì chỉ phải nộp 30 triệu sau khi bị phát giác đăng bài của Trung Cộng mô tả cuộc tập trận «bảo vệ biên cương trên biển phía nam Tổ quốc” của họ là Hoàng Trường Sa. Một Huỳnh Ngọc Sĩ, quản lý dự án đại lộ Đông Tây tại Sài Gòn, dù đòi Nhật bản hối lộ gần cả triệu đô la, khi ra tòa cũng được cải tội danh «lợi dụng chức quyền» với bản án 3 năm tù nhẹ bổng. Một Đoàn Văn Kiển, Tổng giám đốc Tập đoàn Than-Khoáng sản VN, dù đã để cho gần 10 triệu tấn than Quảng Ninh bị xuất lậu, gây thất thu cho Nhà nước khoảng 4.500 tỷ đồng, rồi sai phạm về quản lý tiền bạc lên tới hơn 270 tỷ và gần 600.000 đôla (Tiền Phong online 03-09-2009), thế mà vẫn chỉ bị kỷ luật đảng và buộc thôi việc. Một Chu Văn Thưởng, nguyên giám đốc Sở Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn Hà Tây, dù không có bằng lái nhưng lại điều khiển xe hơi sau khi nhậu, gây tai nạn làm chết 2 hai người, vẫn chỉ bị phạt 36 tháng tù treo (Người Lao động online 22-10-2009).

3- Con nợ : Trong khoảng hơn thập niên sau biến cố 1975, để trả nợ chiến phí cho các quốc gia cộng sản Đông Âu, hàng trăm ngàn công nhân đã được đưa sang đó làm việc với đồng lương rẻ mạt, không đủ gởi về nuôi gia đình ; trong nước cũng có chính sách lùa cả triệu thanh thiếu nữ (chủ yếu miền Nam) vào các hợp tác xã thêu ren, ngày đêm cặm cụi thêu những tấm ra, mặt gối xuất cảng qua các nước ấy, với số tiền còm chỉ đủ ăn hai bữa. Còn hiện nay, hàng triệu nông dân trong nước đang sống trên nợ, nợ hợp tác xã nông nghiệp, vì lúa gạo họ làm ra không đủ để mua lại phân bón, lúa giống, nộp hàng chục thứ thuế khác và trả tiền dẫn nước vào ruộng… Học sinh cấp ba và sinh viên thì phải đóng học phí quá khả năng của gia đình nên đành phải vay mượn chính phủ, sau khi tốt nghiệp sẽ làm việc trả lại. Cả hai hạng này, một hạng đông đảo về lực lượng và một hạng có tiềm lực về tri thức, đương nhiên trở thành con nợ triền miên của nhà cầm quyền và đảng dùng chính dây thòng lọng này để khống chế họ về mặt quan điểm chính trị.

Cơ  chế «Xin-cho» áp dụng vào việc cấp đất đai, cấp giấy phép xây dựng, tổ chức, xuất ngoại cũng biến người dân, đặc biệt là các tập thể tôn giáo, các lãnh đạo tinh thần thành kẻ mắc nợ ân nghĩa với nhà nước. Rốt cuộc là họ phải im lặng, để mặc cho đảng tung hoành, tiếp tục phạm sai lầm và tội ác. Hiện nay, theo ước tính của các chuyên gia, nợ nước ngoài của VN là từ 20 đến 30 tỷ đô-la. Nhà cầm quyền lúc nào cũng thấy bận rộn đi mượn tiền của các cơ quan tài chính quốc tế đem về thực hiện các dự án quốc nội mà ai cũng biết một phần không nhỏ chi phí cho các dự án này chạy vào túi cán bộ đảng viên. Và người nai lưng ra trả các món nợ khổng lồ này chính là nhân dân, thế hệ hôm nay hoặc mai ngày. Đó là chưa kể món nợ giang sơn (đất, biển, đảo) đã và đang phải trả cho Trung Quốc vì đã giúp xâm lược miền Nam, gây tai hại cho vận mệnh Tổ quốc, tiền đồ Dân tộc.

4- Con bài : Đầu năm 2005, Thiền sư Thích Nhất Hạnh ung dung dẫn hơn 100 đệ tử pháp môn Làng Mai từ Pháp trở về VN, rảo khắp cả nước để hoằng pháp. Ông đâu có hay rằng mình đã trở thành một con bài giúp giải cứu đảng và nhà cầm quyền CS khỏi danh sách CPC (năm 2006). Mới đây, nghe biết bộ ngoại giao Hoa Kỳ chuẩn bị danh sách CPC mới, trong đó VN phần chắc sẽ dính vào vì bao cuộc đàn áp tôn giáo khốc liệt từ sau hội nghị APEC 2006 tới nay, nhà cầm quyền CS lập tức cấp giấy phép hoạt động hôm 19-10-2009 cho Hội thánh Phúc âm Ngũ tuần, một hệ phái Tin lành hạng lớn tại Mỹ từ lâu bị xem là bất hợp pháp và thường xuyên bị đe dọa, tiếp đó là cho phép Liên Hội đồng Giám mục Á Châu được tổ chức hội thảo tại Việt Nam từ 22 đến 26-10 tại Sài Gòn, cuối cùng là để cho một linh mục, hôm 24-10, lên thành phố Sơn La cử hành mục vụ cho một cộng đoàn giáo dân mà từ bao năm nay vẫn bị đàn áp cách khốc liệt. Tất cả đã trở thành những con bài giúp cho VN lại thoát khỏi danh sách CPC do bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đưa ra hôm 26-10 mới rồi.

Với một nền pháp luật vô nguyên tắc của một chế độ vô nhân đạo, Cộng sản thường xuyên có trong tay những con bài để mặc cả với thế giới dân chủ đầy tiềm lực kinh tế, đó là các nhà đối kháng đang bị tống giam trong ngục. Họ bị bắt, bị kết án rồi được tha tù không bao giờ theo tiêu chuẩn công lý, nhưng theo những tính toán chính trị, nhằm giúp đảng CS thoát khỏi sự trừng phạt của thế giới, đạt được những hợp đồng béo bở hay thiết lập những mối bang giao có lợi.

Cư  xử với nhân dân, đồng bào như con cái, con ở, con nợ và con bài từ mấy chục thập niên qua như thế, chính là vì Việt Cộng -cụ thể là Hồ Chí Minh và đảng Lao động- từng là con cờ của Quốc tế Cộng sản, bị Liên xô dùng để bành trướng chủ nghĩa độc hại và chế độ bạo tàn xuống Đông Nam Á. Nay thì lại vì Việt cộng đang là con ở của Trung Cộng, nhắm mắt làm theo lệnh ông chủ Bắc triều, bất chấp nỗi nhục của dân tộc, nỗi khổ của đồng bào, nỗi nguy của Tổ quốc, tất cả chỉ để mong ông chủ bảo vệ ghế ngồi của một tên nô lệ !

BAN BIÊN TẬP

Trở ngại trên đường phát triển của Việt Nam

30 October, 2009 at 7:22 am | In Diễn Đàn Dân Chủ | Leave a Comment

Long S. Le DCVOnline lược dịch

http://www.dcvonline.net/php/modules.php?name=News&file=article&sid=6839

Kết quả kinh tế của Việt Nam trong quý I năm nay cho thấy rủi ro ngắn hạn của Việt Nam đang giảm. Theo Viện Quản lý Kinh tế Trung ương, bộ phận nghiên cứu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tốc độ tăng trưởng GDP là 3,1% trong quý I ‒ độ tăng chậm nhất trong ít nhất 10 năm mới đây. Đây là một xuống cấp đáng so với 7,4% tăng trưởng ở quý đầu năm 2008. Không may cho Việt Nam, dấu hiệu tuột dốc đó có thể chỉ mới bắt đầu. Vì Việt Nam ngày nay đã phụ thuộc vào nền kinh tế toàn cầu hơn 10 năm trước đây. Việt Nạ, như thế, sẽ cũng dễ bị ảnh hưởng vì suy thoái kinh tế toàn cầu.

Trong năm qua mực xuất khẩu quốc gia chiếm tới 70% doanh thu cả nước. Tuy nhiên, thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam, Liên hiệp châu Âu, Mỹ và Nhật Bản, dự báo tỷ lệ tăng trưởng sẽ giảm đi 2% trong năm nay, trong trường hợp của Nhật Bản, ‒ 5%. Theo một số nhận định khác, nhập khẩu cho các thị trường này dự kiến sẽ tuột dốc 52%, và do đó, xuất khẩu của Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng nặng nề. Do đó, Economist Intelligence Unit (một công ty nghiên cứu và cố vấn kinh tế thuộc tạp chí The Economsit ‒ DCVOnline) vào giữa tháng Ba đã dự đoán một kịch bản ảm đạm: tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam sẽ chỉ còn 0,3% trong năm nay, giảm từ 6,2% trong năm 2008 và 8,48% trong năm 2007; nếu phục hồi được sẽ không sớm hơn giữa năm 2010 khi tốc độ tăng trưởng dự kiến sẽ lên đến 2%.

Shanghai Electric
Nguồn: AFP

Ngược lại, mặc dù IMF và Ngân hàng Thế giới mới đây đã tương ứng hạ cấp dự báo tăng trưởng của Việt Nam tới 4,7% và 5%, họ tin rằng chính phủ cắt lãi suất và giảm yêu cầu dự trữ ngân hàng để đối phó với độ nóng sốt năm ngoái đang giúp Việt Nam qua cơn khủng hoảng. Chắc chắn, khó có thể đánh giá thấp nền kinh tế của Việt Nam. Theo một báo cáo Nielson gần đây, “Việt Nam ‒ Cất cánh hoặc Lộn nhào trong năm 2009,” người tiêu dùng ở Việt Nam có vẻ tự tin hơn so với dân các nước khác, cho rằng lạm phát và thất nghiệp là kết quả của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu chứ nguyên nhân không phải là lòng tham.

Trong khi đó mức kiều hối (bằng 10% GDP trong năm 2007) từ 3,5 triệu người Việt Nam ở nước ngoài có khả năng được che đỡ vì Việt kiều phải giúp gia đình tại Việt Nam bất kể tình hình kinh tế. Hơn nữa, những Việt kiều có vốn nhiều thường trở thành những người đầu tư trong lúc thị trường xuống thấp, đặc biệt là nếu luật mới được đưa ra xem tất cả người Việt hải ngoại như nhau (ví dụ, Việt kiều ở Tây Âu so với những người ở Đông Âu).

Vì vậy có khả năng là Việt Nam trong ngắn hạn sẽ tránh một cuộc khủng hoảng, nhưng lãnh đạo Việt Nam sẽ rất khó khăn để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế 5% cho năm 2009. Nền kinh tế tương đối mạnh mẽ của Trung Quốc có thể không giúp đỡ nhiều cho Việt Nam ‒ hàng Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc vẫn còn nhỏ và thường được sử dụng như là đầu vào cho sản phẩm Trung Quốc xuất cảng sang phương Tây. Trong thực tế, Bộ Công nghiệp và Thương mại vào cuối tháng tư đã phải điều chỉnh mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu của Việt nam trong năm 2009 từ 13% đến 3%.

Tuy nhiên, lãnh đạo Việt Nam dường như đương tự dối mình về tai ương kinh tế của đất nước. Tháng Hai, 2009 thủ tướng (Nguyễn Tấn Dũng) cho biết Việt Nam sẽ có thể đạt được một mức tăng trưởng 6,5% cho năm nay. Một tháng sau, thủ tướng đã sửa đổi dự báo tăng trưởng lại còn 5%-5,5%. Nhưng văn phòng của ông (Nguyễn Tấn Dũng) vẫn lạc quan rằng lực lượng lao động của Việt Nam và thị trường trong nước “sẽ chắc chắn” đẩy đất nước trở lại mức tăng trưởng trước cuộc khủng hoảng toàn cầu, vào cuối năm nay.

Hơn nữa, thực tế là tỷ lệ cổ phần hóa của Việt Nam đang đảo ngược. Theo Bộ Tài chính, số lượng cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước giảm từ 724 trong 2.005 xuống 640 vào năm 2006, 150 trong năm 2007, và 73 trong năm 2008. Mặc dù bằng chứng cho thấy rằng hầu hết các công ty đã cổ phần hóa đã thu lợi nhuận và trả cổ tức cao sau khi cổ phần hóa, nhà nước sẽ ôm cứng các ngành công nghiệp chiến lược vô thời hạn. Đó là các ngành công nghệ viễn thông, ngân hàng và dịch vụ tài chính, và giáo dục và đào tạo nhằm mục đích bảo vệ “trật tự xã hội chủ nghĩa”.

Long S. Le
Nguồn: conference.unavsa.org

Vì vậy mà “khi các nhà lãnh đạo ở đây nói rằng họ muốn có một nền kinh tế thị trường (định hướng) xã hội chủ nghĩa, họ thực sự muốn như thế,” theo ông Jonathan Pincus, chuyên gia kinh tế (trường Harvard). Không có gì để ngạc nhiên, rõ ràng là quyền lợi của đảng hiện rõ trong chương trình kích thích thị trường của chính phủ. Trong số 1 tỷ đô la đầu tiên được phân phối, khoảng 75% là dành cho doanh nghiệp nhà nước, 20% cho các doanh nghiệp trung bình và nhỏ, và 5% cho các dự án xây nhà ở cho người thu nhập thấp. Chương trình ki’ch thích và công thức chia phần này bất chấp sự phí phạm tại doanh nghiệp nhà nước là nơi không tạo ra việc làm cho dân chúng. Chương trình kích thích thứ hai sắp tiến hành phần lớn giúp doanh nghiệp nhà nước và không có phương cách giải quyết nạn mất việc, có khả năng sẽ tăng gấp đôi từ 4,7% năm 2.008-8,2% cho năm nay (không kể các lĩnh vực không chính thức).

Bản cáo trạng ghi những gì đang làm Việt Nam trì trệ là chế độ chính trị và sự không có kiến thức (not know-how) đã được vạch rõ trong một báo cáo của Chương trình Harvard Việt Nam. Bản án ghi trong báo cáo được công bố trong tháng 1 năm 2008 cho rằng đối với Việt Nam “thành công là một sự lựa chọn”, nhưng trong thực tế nó “không khác với một huấn luyện viên bóng đá cho những lực sĩ yếu nhất của mình ra sân chơi trong trận vô địch.”

Khi những điều đó chưa thay đổi, Việt Nam sẽ tiếp tục trải nghiệm những trở ngại trên đường phát triển.

© DCVOnline

Nhà văn Nguyên Ngọc nói về ông Nguyễn Tấn Dũng và QĐ 97

29 October, 2009 at 8:02 am | In Diễn Đàn Dân Chủ | Leave a Comment

BVN

Bauxite Việt Nam phỏng vấn nhà văn Nguyên Ngọc về việc Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng yêu cầu các cơ quan chức năng khẩn trương thực hiện Quyết định 97, xử lý việc IDS tự giải thể và xử lý những phát biểu “thiếu tinh thần xây dựng” của một số cá nhân thuộc Viện này

Ngày 14-09-2009, Viện IDS tuyên bố tự giải thể để phản đối Quyết định số 97/2009/QĐ-TTg. Ngày 14/10 Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng có ý kiến kết luận về việc này. Bauxite Việt Nam (BVN) phỏng vấn nhà văn Nguyên Ngọc (NN) chung quanh những vấn đề nảy sinh từ kết luận của Thủ tướng.

BVN: Ông nghĩ như thế nào khi mới đây Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chỉ đạo các cơ quan chức năng:

a. Khẩn trương thực hiện QĐ 97.

b. Xử lý “thích hợp và đúng qui định” với việc IDS tự giải thể.

c. Xử lý đối với “những ý kiến thiếu xây dựng” của các thành viên IDS.

NN: Quyết định 97, dù cho là đúng đi nữa – mà chắc chắn nó đã phạm những sai trái nặng nề –, thì theo tôi cũng chẳng có gì khiến Thủ tướng phải thúc giục “khẩn trương thực hiện” đến thế. Hoàn toàn chưa có gì nóng bỏng, nguy hiểm ở đây cả. Ai cũng có thể biết còn có nhiều việc bức xúc hơn nhiều, như việc mấy trăm ngư dân bị lính Trung Quốc hành hung dã man trên chính vùng biển của ta, lại trong tình hình phải chạy tránh bão, khiến nhân dân cả nước phẫn nộ, sao đến nay chỉ thấy mới có Hội Nghề cá yếu ớt lên tiếng, còn Chính phủ thì chưa hề “khẩn trương” động tay? [*]

Đương nhiên động thái “khẩn trương” này khiến người ta không thể không đặt câu hỏi về động cơ thật sự của cái Quyết định kia.

Cũng lạ là một văn bản chính thức của cơ quan Nhà nước lại được viết bằng những từ ngữ mơ hồ như vậy. “Xử lý thích hợp và đúng quy định đối với việc tự giải thể của IDS” là thế nào? Là giúp nó hoàn thành các thủ tục giải thể trong thời hạn 60 ngày theo đúng Luật chăng? Hay trừng trị nó vì nó đã dám tự giải thể, như trong Tuyên bố ngày 14-9-2009 của Viện, “để bày tỏ thái độ dứt khoát của mình đối với Quyết định 97″ ? Dư luận đang chờ xem ý nghĩa thực sự của từ ngữ trên.

Về chuyện “Xử lý đối với “những ý kiến thiếu xây dựng” của các thành viên IDS”, thì trước hết, thế nào là “ý kiến thiếu xây dựng”? Là nói khác với ý kiến của lãnh đạo chăng? Nếu thế thì những ý kiến như vậy có thể tìm thấy vô số bất cứ ở đâu, và đấy chính là dấu hiệu của một xã hội lành mạnh. Lại thêm một sự mơ hồ nữa!

Trong thực tế, trước khi tự giải thể, thái độ của Viện IDS và của từng thành viên của nó đã tỏ ra hết sức có trách nhiệm, đầy thiện chí và kìm chế. Chủ tịch Viện Hoàng Tụy, thay vì gửi một đơn tố cáo theo đúng quy định của pháp luật, đã gửi một bức thư rất ôn tồn cho Thủ tướng, nêu rõ những sai phạm nghiêm trọng của Quyết định 97, đề nghị Thủ tướng nên thu hồi hoặc ít nhất hoãn Quyết định ấy. Trong nhiều cuộc gặp khác với Thủ tướng và những người có trách nhiệm, Chủ tịch và một số thành viên IDS đã tiếp tục nêu các ý kiến và đề nghị đầy thiện chí ấy, có thể nói cho đến phút cuối cùng. Tất cả đều bị lạnh lùng bỏ qua.

Vậy dư luận có thể thấy rõ ai là “thiếu xây dựng”.

BVN: Việc Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng muốn “xử lý” IDS gửi đến người dân thông điệp gì?

NN: Chúng tôi đang chờ việc “xử lý” ấy được thực hiện cụ thể như thế nào, để hiểu rõ ý nghĩa của thông điệp gì đã được gửi đi, đương nhiên không phải chỉ cho các thành viên cũ của IDS, mà qua đó, cho mọi người dân.

BVN: Với việc chỉ đạo các cơ quan chức năng “xử lý” những vụ việc kiểu IDS như thế này thì ông nghĩ, hình ảnh của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đối với công luận trong nước và quốc tế sẽ ra sao?

NN: Điều này, chắc ngài Thủ tướng có thể biết rõ.

BVN: Một trong những chức năng của trí thức là phản biện xã hội, cốt tìm ra một tiếng nói đúng trước những vấn đề của đất nước, nay với QĐ 97, ông tiên liệu người trí thức Việt Nam sẽ tiếp tục thực hiện chức năng đó như thế nào? Xã hội dân sự liệu có thể phát triển ở Việt Nam hay không?

NN: Rất rõ ràng, Quyết định 97 ngăn cản phản biện xã hội và phát triển của xã hội dân sự ở nước ta. Chinh vì thế mà Tuyên bố ngày 14-9-2009 của IDS đã nêu rõ nó là phản tiến bộ, phản khoa học, phản dân chủ, và chẳng khác nào thể hiện chính sách ngu dân. Hậu quả sẽ khôn lường.

BVN: Từ những xử sự của người đứng đầu Chính phủ với trí thức như thế, ông nghĩ gì về mối quan hệ giữa nhà nước trí thức trong giai đoạn hiện nay?

NN: Với Quyết định này, mối quan hệ ấy càng xấu đi rõ rệt. Nó hoàn toàn đi ngược với Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về trí thức được ban hành chưa lâu. Tôi rất e sợ tình trạng mà Lê Quý Đôn xưa đã từng cảnh báo: “Sĩ phu quay mặt”.

BVN: Qua hàng loạt sự kiện với cách hành xử của Chính phủ gần đây như: vụ Bát Nhã, vụ im lặng của Chính phủ trước việc 17 ghe đánh cá với 200 ngư dân bị lính Trung Quốc ngược đãi và đánh đập ngay trên phần lãnh thổ của mình khi trú bão số 9 ngày 27/9 tại Hoàng Sa, vụ người đứng đầu Chính phủ chỉ đạo các cơ quan chức năng xử lý IDS,… ông thấy có điều gì đáng lo ngại hay không?

NN: Tất cả đều hết sức đáng lo ngại.

BVN: Từ các vấn đề đã nêu trên, xin ông cho nhận định: Xã hội hiện nay có vận động theo hướng thuận lợi cho một nhà nước pháp quyền đúng nghĩa hay không?

NN: Không!

BVN: Và cũng từ đó, theo ông giáo dục đối với thế hệ trẻ của chúng ta hiện nay thiếu cái gì? Chỗ được và chỗ mất của nó nhìn cả một chặng dài mà nói?

NN: Cho tôi nói một tâm sự: quả thật thời kỳ đầu, chúng tôi đã từng có lo lắng: không khéo ngồi ở cái Hội đồng IDS (cũ) này chỉ toàn những “bậc lão niên” nói với nhau. Nhưng rồi về sau, các bạn trẻ đến ngày càng đông, hăng hái, với khát khao tri thức, tinh thần trách nhiệm xã hội, say mê không khí tự do khoa học và trí tuệ. Tôi muốn nói: Chính một phần rất lớn nghĩ đến các bạn mà các thành viên IDS (cũ) đã hành xử đàng hoàng như vừa qua trước một Quyết định nhiều sai trái. QĐ 97, mặc tất cả các bào chữa khăng khăng, thật sự là một gông cùm khoa học và trí tuệ. IDS (cũ) đã quyết không thể sống trong gông cùm đó. Tôi nghĩ là các bạn trẻ hiểu rõ điều đó.

Tôi đầy lòng tin ở các bạn trẻ.

[*] Chiều 21/10, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã trao công hàm cho Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam, phản đối việc nhân viên vũ trang Trung Quốc có những hành động vô nhân đạo đối với ngư dân Việt Nam vào tránh bão tại đảo Phú Lâm (xem http://bauxitevietnam.info/c/14494.html). (Bauxite Việt Nam)

Nguồn: BauxiteViệt Nam

Phản đối lính Trung Quốc cướp bóc ngư dân Việt Nam: học sinh không được phép!

28 October, 2009 at 6:56 am | In Diễn Đàn Dân Chủ | Leave a Comment

Bauxite Việt Nam không có điều kiện để xác minh chuyện kể trong bức thư dưới đây chân thật đến mức nào. Nhưng sự sốt sắng quá mức của chính quyền địa phương khi bắt giữ những thanh niên mặc áo thun có ghi dòng chữ khẳng định Hoàng Sa – Trường Sa là của Việt Nam, như trường hợp Mẹ Nấm – Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, mách cho ta biết hành xử của công an Quảng Ninh đối với thầy trò trường THPT Chuyên Hạ Long, không phải là điều gì quá bất ngờ. Chúng ta muốn giáo dục cho thanh niên, ngay từ khi đang ngồi trên ghế nhà trường, biết yêu quê hương, biết rung cảm trước nỗi đau khổ của đồng bào, chúng ta muốn thanh niên hiểu rõ chính quyền là của dân, do dân và vì dân, thì giải thích như thế nào cho xuôi, khi sự thể hiện lòng yêu nước không những không được khuyến khích, mà còn bị xem là lỗi, thậm chí tệ hơn, là tội? Một dân tộc hủy diệt lòng yêu nước của thế hệ trẻ, bất kể vì lý do gì, là một dân tộc tự sát!

Bauxite Việt Nam

Phản đối lính Trung Quốc cướp bóc ngư dân Việt Nam: học sinh không được phép!

Kính gửi Giáo sư Nguyễn Huệ Chi cùng Ban Biên tập Bauxite Việt Nam.

Cháu là D. H., ở Hạ Long.

Trước đây, khi còn đi học, cháu tham gia hoạt động trên rất nhiều diễn đàn, đặc biệt là các diễn đàn học sinh THPT. Sau khi đi làm, cháu không còn tham gia nhiều như trước. Hồi đầu năm 2009, một thầy giáo đang giảng dạy ở trường THPT chuyên Hạ Long – ngôi trường giàu thành tích nhất tỉnh Quảng Ninh – có đứng ra thành lập website: http://chuyenhalong.edu.vn và mời cháu cộng tác phát triển diễn đàn dành cho học sinh trong trường.

Diễn đàn đang phát triển tốt thì cách đây vài hôm, công an tỉnh Quảng Ninh đã về trường và triệu tập admin đến thẩm vấn vì việc có một học sinh trong trường đã đăng bài vụ 200 ngư dân Quảng Ngãi bị cướp bóc đánh đập khi trú bão tại quần đảo Hoàng Sa. Công an đã tịch thu giấy phép hoạt động, copy tất cả mọi thông tin, xóa sạch dữ liệu và tịch thu quyền admin, diễn đàn đã bị bắt buộc đóng cửa, chỉ được phép giữ lại duy nhất cổng thông tin giới thiệu về trường THPT Chuyên Hạ Long. Thầy cho biết việc mở lại diễn đàn là hoàn toàn không thể xảy ra.

Có điều cháu rất ngạc nhiên và bất bình là: bài viết đó của em học sinh là copy hoàn toàn từ báo điện tử Vietnamnet (bài báo của tác giả Hoàng Anh, nguồn: http://vietnamnet.vn/xahoi/200910/Chuyen-ke-cua-nhung-ngu-dan-tro-ve-tu-coi-chet-873607/). Công an tỉnh Quảng Ninh giải thích lý do họ hành xử như vậy là vì bài viết có liên quan đến chính trị. Nếu như vậy thì họ phải bắt rất nhiều người (trước tiên là nhà báo Hoàng Anh của báo điện tử Vietnamnet), đánh sập rất  nhiều diễn đàn, blog chứ sao lại chỉ chăm chăm nhằm vào một diễn đàn THPT? Ngay cả khi Ban Tuyên Giáo Trung Ương đã lên tiếng phản đối hành động vô nhân đạo đối với ngư dân Việt Nam, vậy mà các cơ quan hành pháp vẫn đàn áp, bưng bít thông tin, thì đó là điều cháu không thể hiểu nổi. Cháu nghĩ thế hệ trẻ, thanh niên, học sinh hiện nay chính là nền móng của tương lai đất nước. Hơn ai hết, họ cần được biết, cần được tiếp cận với những thông tin gần sự thật nhất, để được rèn giũa, để nắm được tình hình đất nước, để chia sẻ, để lập nên một cộng đồng trí thức trẻ có nhận thức đúng đắn, có ý thức dân tộc dân chủ, có lập trường vững chắc, sau này có thể xây dựng đất nước, bảo vệ quyền lợi cho người lao động.

Cháu không có nhiều kiến thức về pháp luật, nhưng từ góc nhìn của một người công dân, cháu thấy hành động đó của Công an tỉnh Quảng Ninh là hoàn toàn sai, trái với Hiến pháp của nhà nước Việt Nam – một nhà nước Pháp quyền. Xin trích điều 53 Hiến pháp Việt Nam: “Công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan Nhà nước, biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân.”. Và điều 69: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật”.

Một diễn đàn học sinh đang phát triển – một nơi vui chơi lành mạnh hiếm hoi cho các em – bỗng dưng bị đánh sập vì những quan điểm “chính trị” sai lầm của cơ quan hành pháp. Cháu rất mong nhận được sự góp ý của Ban Biên tập, của tất cả mọi trí thức đang ngày ngày theo dõi trang mạng Bauxite Việt Nam. Công an tỉnh Quảng Ninh làm thế là đúng hay sai? Vi phạm những điều nào trong pháp luật Việt Nam hiện hành? Và liệu các em học sinh có bị lấy mất một nơi vui chơi, thảo luận, chia sẻ chỉ bởi vì sự sai trái của cơ quan hành pháp hay không?

Cháu xin cảm ơn tất cả mọi người!

D. H.

http://bauxitevietnam.info/15226/phan-doi-linh-trung-quoc-cuop-boc-ngu-dan-viet-nam-hoc-sinh-khong-duoc-phep/

Cái nôi của Dân Chủ

27 October, 2009 at 7:04 am | In Bình luận: Ngô Nhân Dụng | Leave a Comment

Ngô Nhân Dụng

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=103073&z=7

 

Có hơn 50,000 tiếng Hy Lạp đang được sử dụng trong các ngôn ngữ đang được sử dụng trên thế giới! Tôi chưa bao giờ nghe nói điều đó cho tới khi tới Athena (đọc là A Ti Na), đọc một tờ quảng cáo nhắc nhở như vậy. Một người Việt Nam tò mò sẽ tự hỏi không biết trong tiếng nước mình có những chữ nào là gốc Hy Lạp?

Nghĩ mãi thì thấy có. Bây giờ người Việt nói chuyện với nhau có thể nói nhanh, “Tôi sẽ phô tô bài báo này cho mỗi anh một bản,” hoặc, “Em sẽ gọi phôn cho anh ngay” (thường là em hứa rồi không gọi). Chúng ta không để ý rằng những tiếng “phôn” và “phô tô” tìm về gốc tích thì tổ tiên đều là tiếng Hy Lạp ra cả. Những đơn vị đo lường mình bắt chước tiếng Pháp, sinh ra nhưng tiếng Việt như “một ký, hai ký” cũng đều gốc Hy Lạp nữa. Giáo Sư Nguyễn Phước, tác giả “Tiếng Việt gốc ngoại quốc” chắc sẽ cho chúng ta biết thêm nhiều tiếng khác. Một trong những tiếng Việt gốc Hy Lạp được viết trong báo chí rất sớm, từ thời Tự Lực Văn Ðoàn, là chữ “lô gích.” Cụ Phan Khôi, người Quảng Nam, từng bị “chụp mũ” là “ông lô gích!”

Tiếng Việt, tiếng Nhật chịu ảnh hưởng của chữ Hán như thế nào thì các nước Âu Châu chịu ảnh hưởng của chữ Hy Lạp và chữ La tinh như vậy; rồi từ Âu Châu chúng di tản và sang Á Châu, Phi Châu mà truyền giống. Những tiếng chúng ta quen dùng như Nguyên Tử lực, Dân Chủ, Ô lanh píc hoặc Ô lem píc, Biện Chứng, chạy ma ra tông, Cơ Thể Học, vân vân, đều gốc gác từ những tiếng được người Hy Lạp dùng hơn hai ngàn năm trước. Nếu xóa bỏ hết những chữ gốc Hy Lạp trong ngôn ngữ của loài người, bỏ mất cả những khái niệm do những tiếng đó bao hàm, thì nền văn minh của nhân loại sẽ khác hẳn. Có thể sẽ biến mất, không còn văn minh như chúng ta vẫn hiểu nữa. Và những cầu chuyện chúng ta trao đổi với nhau sẽ bị đẩy công một tầng thấp hơn nhiều!

Các tờ quảng cáo du lịch còn giới thiệu thành phố A Ti Na là nơi phát sinh ra thể chế chính trị Dân Chủ (tôi phiên âm tên A Ti Na theo lối nói tên của dân địa phương; chữ “tê-ta” trong tiếng Hy Lạp đọc giữa phụ âm T và S trong tiếng Việt. Người Tây hay viết chữ tê ta thành TH, cho nên tiếng Anh viết là tên thành phố này là Athens, Athenes trong tiếng Pháp). Người Hy Lạp gọi cách tổ chức việc cai trị đó là “chế độ Ðê Mô,” sau biến thành Demokratia, Democracy, Democratie, vân vân, trong tiếng các nước khác Người Việt cũng như người Tầu, người Nhật Bản gọi đó là chế độ này là Dân Chủ, ý nói người dân làm chủ trong việc cai trị. Phải chi khi bắt đầu dịch khái niệm này sang tiếng Việt mà các cụ tổ mình được nghe trực tiếp chứ không học qua sách chữ Hán, thì chắc người mình đã phiên âm Demokratia thành một chữ trong đó có chữ gốc “Ðê Mô,” tiếng Hy Lạp.

A Ti Na đúng là cái nôi của chế độ dân chủ ở Tây phương. Những người Hy Lạp đã sống với các thủ tục dân chủ từ thời Pericles trước đây 2500 năm, nếu họ trở lại sống ngày hôm nay, thì họ sẽ ngạc nhiên. Họ sẽ thấy lề lối xếp đặt xã hội mà chúng ta gọi là tự do dân chủ bây giờ rất xa lạ đối với họ, nếu không nói là “phản động.” Phản động, bởi vì những chế độ tự do dân chủ bây giờ cho phép đủ mọi người góp ý kiến vào việc trị quốc, một điều mà dân A Ti Na không thể chấp nhận được! Ở A Ti Na, đó là quyền của một thiểu số. Và ngay trong nhóm thiểu số đó, ai nói những ý kiến “không chính thống” có thể bị tòa án cho đi tù mút mùa! Chính vì chế độ gọi là “dân chủ” đó không có tự do, không bình đẳng, nên tòa án ở thành phố này đã đã xử tử hình nhà hiền triết Sô Crát, chỉ vì tội “bất đồng ý kiến!” Hoặc gọi là “chống lại chính quyền của nhân dân” cũng được!

Tại A Ti Na từ thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên, tất cả mọi người dân thành phố đều được quyền quyết định việc cử người nắm quyền, quyết định những việc quan trọng như thờ cúng các vị thần, tuyên chiến với các thành phố khác, vân vân. Nhưng số người được tự do tham gia phát biểu ở nghị trường phải là đàn ông! Và con số đó chỉ bằng một 15% đến 25% số đàn ông trong thành phố mà thôi. Dân Hy Lạp ở các nơi khác đến đó sống không được dự. Tất nhiên những người ngoại chủng, các nô lệ mua từ đâu đó về hoặc bị bắt về, đều không được dự. Ngày nay mà một quốc gia nào đặt ra thủ tục quyết định việc chung việc nước như vậy chắc chắn sẽ bị coi là “phản động.”

Chỉ vì những chữ Dân Chủ viết trong hầu hết các ngôn ngữ đều dùng hai tiếng Ðê Mô (demos), nghĩa là dân chúng trong tiếng Hy Lạp; cho nên mọi người vẫn coi như dân Hy Lạp ở A Ti Na là những người sáng chế ra cách sống dân chủ. Triết gia Platon đặt tên cuốn sách ông viết về phương pháp cai trị là Cộng Hòa (Repubic) cho nên người ta càng thấy trao “giải thưởng dân chủ sớm nhất thế giới” cho người Hy Lạp là hợp lý. Nhưng các sử gia đã chỉnh lại thành kiến đó, khi khám phá ra là từ thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên, trước khi Ðức Phật Thích Ca ra đời, ở lục địa Ấn Ðộ đã có một nơi sống theo các thủ tục dân chủ, là nước Vaishali. Chế độ ở đó, Maha Janapadas, có thể gọi là Cộng Hòa theo lối nói ngày nay, trong đó một nhóm người có quyền quyết định mọi việc chung, không ai chiếm độc quyền cả. Có lẽ dưới ảnh hưởng của lối sống đó mà thời Ðức Phật còn sống, những người theo học ngài đã sống chung với những thủ tục dân chủ, ngày nay còn nhiều tăng đoàn vẫn áp dụng. Thời Ðại Ðế Alexander chinh phục sang vùng các nước Ba Tư, Ấn Ðộ bây giờ, vào thế kỷ thứ 4 trước Công nguyên, các học giả tháp tùng đoàn quân của ông cho biết họ thấy dân hai nước Sabarcae và Sambastai (bây giờ là vùng đất nằm giữa hai nước Afghanistan và Pakistan), cũng dùng những tập tục cai trị lẫn nhau theo lối dân chủ chứ không theo vương quyền thế tập.

Nhưng Hy Lạp vẫn xứng đáng được coi là nơi phát sinh các thủ tục dân chủ, vì nhiều lý do. Thứ nhất, nhiều người đã nói, đã thảo luận về các thủ tục quyết định tập thể họ sử dụng, nhất là họ biện luận cho các thủ tụ đó với các nguyên tắc căn bản mà ngày nay vẫn còn thấy giá trị. Họ viết ra các quy tắc căn bản đó, truyền đến bây giờ. Ngược lại, chúng ta không còn giữ được bài viết hay cuốn sách nào của những người dân ở Vaishali hoặc Sambastai. Các quy tắc sống chung của tăng đoàn thời Ðức Phật thì được giữ lại nhưng chỉ để áp dụng trong tập thể của những người tu hành đó thôi. Không thấy đệ tử nào của Ðức Phật cổ động cho cả xã hội chung quanh cũng “phải sống theo các quy tắc tự do dân chủ” như trong tăng đoàn. Có thể nhiều người cũng có những tư tưởng cách mạng đó nhưng họ bị chính quyền đương thời bắt giữ hết.

Các tư tưởng “cách mạng” của họ cũng chết theo họ trong những trại “học tập cải tạo” của các vua chúa. Cho nên, người Hy Lạp vẫn xứng đáng được coi là những người đặt nền móng cho lối sống dân chủ.

Chúng ta biết là những thủ tục sống dân chủ đầu tiên ở A Ti Na còn thiếu sót, nhất là thiếu quan niệm về tự do, về bình đẳng cho tất cả mọi con người, không phân biệt nam nữ và không theo chủ nghĩa “lý lịch.” Những quy tắc còn thiếu đó, bây giờ gọi là những quyền làm người, hay nhân quyền. Ngày nay, một quốc gia tự gọi là dân chủ mà thiếu tự do, không bìnhh đẳng, không tôn trọng các quyền làm người thì vẫn bị coi là chưa thật sự dân chủ.

Mặc dù còn thiếu nhiều quy tắc quan trọng đó, các triết gia Hy Lạp đã đặt nền tảng cho chế độ tự do dân chủ đời sau với nhiều nguyên tắc lớn. Thí dụ, người Hy Lạp đã đề cao khái niệm thượng tôn pháp luật, giống như người Á Ðông nói “Pháp bất vị thân,” pháp luật không phân biệt người thân hay người ngoài. Aristotle viết: “Tất cả mọi con người đều có tình cảm, nhưng luật pháp thì không.” Ðây là một quy tắc quan trọng,vì luật pháp là một bảo đảm cho con người được sống tự do.

Người ta cảm thấy tự do vì tất cả mọi người đều ở dưới một pháp luật chung, như nhau. Mỗi người có thể đoán trước khi tính làm một việc nào thì hành động của mình sẽ được luật pháp xét xử một các công bình. Chẳng hạn, ai lái xe vượt đèn đỏ đều có thể bị phạt như nhau, dù xe mang bảng số công an hay không. Ai ăn hối lộ cũng bị xử theo những điều luật giống nhau. Biết như vậy, mọi người cảm thấy cuộc sống an toàn trong pháp luật. Vì ai cũng được luật pháp bảo vệ, không lo ông quan tòa xét xử thiên vị, tùy hứng, hoặc xử theo chỉ thị của vua quan. Chúng ta gọi đó là sự an toàn về pháp lý.

Từ đó chúng ta mới thấy một vai trò lớn của pháp luật, là luật pháp ấn định những giới hạn trên quyền tự do của mọi người, đặc biệt là giới hạn quyền hành của những người cai trị. Khi những người cầm quyền nói họ sẽ cai trị bằng pháp luật, chúng ta biết là quyền hạn của chính họ bắt đầu bị giới hạn. Một căn bản của chế độ tự do dân chủ là giới hạn quyền hành của nhà nước. Ðó là điều bảo đảm tính chất bình đẳng trong cuộc sống. Sử gia Herodotus người Hy Lạp gọi quyền bình đẳng trước pháp luật là “isonomia,” tức là mọi người được đối xử như nhau. Do đó, ai cũng cảm thấy có tự do, không lo bị đàn áp bất công. Trong vòng bảo vệ của pháp luật, mọi người tha hồ mưu cầu hạnh phúc, không bị ai ép buộc mà cũng không ai cấm đoán được.

Từ những nền tảng đó, loài người đã xây dựng nên những quy tắc sống chung khác, mà bây giờ chúng ta gọi là chế độ dân chủ tự do. Cho nên, rút cuộc chúng ta vẫn phải cảm ơn các hiền triết Hy Lạp trước đây hơn 2000 năm đã đặt ra những nền móng từ đó loài người dựng lên các chế độ dân chủ bây giờ!

Tại Sao Hà Nội Không Dám Xử Tội Treo Biểu Ngữ Của 9 Người Yêu Nước

23 October, 2009 at 8:30 am | In Diễn Đàn Dân Chủ | Leave a Comment

Trung Điền

http://viettan.org/spip.php?article9071

Một lần nữa nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam đã lún sâu vào tội phản dân tộc khi kết án 59 năm tù (gồm 32 năm giam cầm và 27 năm quản chế) đối với 9 nhà dân chủ yêu nước gồm nhà thơ Trần Đức Thạch, Nhà giáo Vũ Hùng, Kỹ sư Phạm Văn Trội, Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, Sinh viên Ngô Quỳnh, ông Nguyễn Văn Túc, ông Nguyễn Mạnh Sơn, ông Nguyễn Văn Tính, ông Nguyễn Kim Nhàn trong các phiên tòa tại Hà Nội và Hải Phòng trong các ngày 6, 7, 8, và 9 tháng 10 vừa qua. Những nhà dân chủ yêu nước đã bị kết án nặng nề chỉ vì họ lên tiếng kêu gọi mọi người cùng nhau bảo vệ đất nước đang bị phương Bắc đe dọa.

Tuy nhiên, nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam đã dùng còng 88 (điều 88 – tuyên tuyền chống nhà nước) của bộ luật Hình sự để kết án 9 nhà dân chủ thay vì xét xử về việc họ đã cùng nhau treo biểu ngữ “Bảo vệ lãnh thổ, lãnh hải, hải đảo Việt Nam – tự do dân chủ đa nguyên” tại Hà Nội và Hải Phòng. Trong bản kết luận điều tra của công an và cả bản cáo trạng của Viện kiểm sát, Cộng sản Việt Nam đã chỉ đề cập về một số bài viết, một số phát biểu của các nhà dân chủ mà họ cho là có “âm mưu chính trị” nhằm chống lại nhà nước.

Tại sao Hà Nội lại tránh né việc xét xử các hành động tụ họp treo biểu ngữ?

Thứ nhất, việc Hà Nội không dám đưa ra xét xử tội treo biểu ngữ vì sẽ đụng đến hai vấn đề cấm kỵ đối với chế độ. Đó là vấn đề xâm lược của Bắc Kinh đối với các lãnh hải, lãnh đảo của Việt Nam và tội bán nước của Hà Nội trong các hành vi đồng loã với Bắc Kinh từ công hàm Phạm Văn Đồng vào năm 1958 kéo dài cho đến nay. Do đó khi đưa ra xét xử, Hà Nội không thể kết án xoay quanh các hành động liên quan đến việc treo biểu ngữ vì còn phải đề cập đến nội dung và sự ảnh hưởng của nó. Đi sâu vào nội dung, Hà Nội sẽ bế tắc trong việc kết tội đối với vụ treo biểu ngữ của các nhà dân chủ. Đồng thời những phản biện qua lại về các hành vi xâm lược của Bắc Kinh giữa cán bộ Việt cộng và các nhà tranh đấu trong phiên tòa, chắc chắn sẽ đẩy Hà Nội vào thế tiến thoái lưỡng nan: Tấn công Bắc Kinh để giữ thể diện hay bênh vực Bắc Kinh để giữ chỗ dựa an toàn.

Thứ hai, khi mang vụ treo biểu ngữ ra kết án, Hà Nội còn đối diện một vấn đề nghiêm trọng khác là phản ứng chống đối của các đảng viên đảng Cộng sản về hành động bán nước của họ. Từ khi một số cựu chiến binh ký vào thỉnh nguyện thư gửi cho ông Mạnh và ông Dũng yêu cầu rút lại công hàm Phạm Văn Đồng vào tháng 5 năm 2008, ban bí thư và bộ chính trị Cộng sản Việt Nam đã phải phổ biến hàng loạt các tài liệu học tập nhằm giải thích quan điểm của đảng về các thái độ xâm lấn của Trung Quốc trên Biển Đông. Tuy nhiên, hầu hết đảng viên đảng Cộng sản đã không đồng tình về các giải thích và trong những buổi họp nội bộ, đa số đã yêu cầu trung ương đảng phải có thái độ phản đối mạnh mẽ hơn đối với Trung quốc. Do đó, Cộng sản Việt Nam không thể tự bắn vào chân mình khi họ biết là không thể nào vừa làm hài lòng Bắc Kinh, vừa làm hài lòng nội bộ đảng, bởi thái độ ươn hèn của họ trong thời gian vừa qua.

Thứ ba, Hà Nội lo sợ kết quả của phiên tòa sẽ tạo sự phẫn nộ của dư luận và có thể bị kích động tạo thành một phòng trào chống đảng và nhà nước về tội bán nước, phản dân tộc khi đưa ra xét xử những người vì lòng yêu nước đã treo biểu ngữ kêu gọi mọi người bảo vệ đất nước. Mặc dù Hà Nội mang điều 88 ra xét xử đối với 9 nhà dân chủ; nhưng có thể nói là dư luận người Việt ở trong và ngoài nước rất quan tâm theo dõi, nhiều quốc gia đã cử đại diện đến dự thính tại các phiên tòa vừa qua. Tuy gọi là xử công khai; nhưng mọi diễn tiến và nội dung của phiên tòa đã bị Hà Nội kiểm soát gắt gao. Ngay cả việc loan tải kết quả của phiên tòa, lần này Hà Nội chỉ cho loan tải một cách lấy lệ trên một số kênh truyền hình địa phương, hoàn toàn khác với cách cho loan tải rầm rộ của những phiên tòa trước đây để dằn mặt dư luận.

Chính vì biết thủ đoạn tránh né của nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam, 9 nhà dân chủ yêu nước và cả những luật sư biện hộ đã chống lại các luận cứ kết tội của công an và Viện kiểm sát. Tất cả các nhà dân chủ đã không nhận mình có tội vi phạm điều 88 như CSVN đưa ra. Ngược lại họ đều chủ trương rằng những bài viết, những phát biểu đều nằm trong khuôn khổ của quyền tự do được quy định trong hiến pháp cũng như trong bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền mà Cộng sản Việt Nam công nhận.

JPEG - 6.3 kb
Luật sư Huỳnh Văn Đông

Các nhà dân chủ cũng đã khẳng định rằng họ là những người yêu nước và các hành động của họ – treo biểu ngữ – là thái độ biểu hiện lòng yêu nước mà tất cả mọi người Việt Nam đều phải làm và cần làm trước những đe dọa của ngoại bang. Trong bài luận cứ bào chữa trước phiên tòa xử Kỹ sư Phạm Văn Trội hôm mồng 7 tháng 10 tại Hà Nội, Luật sư Huỳnh Văn Đông đã nói:

“Trong vụ án này nếu có tội, anh Phạm Văn Trội chỉ phạm một tội duy nhất là tội dám nói lên những tiêu cực còn tồn tại trong xã hội, dám nói thật và nói thẳng những quan điểm, chính kiến của mình và chấp nhận hậu quả cho những hành động đó nhưng tội danh này không có trong Bộ luật hình sự Việt Nam. Nếu xét xử và buộc tội anh Phạm Văn Trội có hành vi tuyên truyền chống nhà nước bằng cái đơn tố cáo chính sách an ninh nhà nước và đảng Cộng sản Việt Nam, thì tôi nghĩ rằng cả tập thể Tòa soạn báo đảng Cộng sản cũng phải đi tù nốt vì hành vi công khai dâng biển cho Trung Quốc bằng việc biểu dương sức mạnh của quân đội Trung quốc trên vùng biển Hoàng sa – Trường sa Việt Nam thông qua bài báo trên trang báo của đảng Cộng sản ngày 4 tháng 9 vừa rồi. Nhưng chúng ta chỉ thấy ông Tổng Biên Tập chỉ bị “khiển trách” hết sức nhẹ nhàng và bị phạt 30 triệu đồng . Dư luận bất bình trước những thông tin được loan tải trên trang nhà của ĐCS và càng bức xúc trước “hình phạt” như gãi ngứa đối với cá nhân có trách nhiệm nên có người gọi đó là thứ “Công lý bất công”.

Luận cứ bào chữa của Luật Sư Huỳnh Văn Đông đã nói lên tất cả bộ mặt thật của chế độ Hà Nội đã dùng “công lý trá hình” để trù dập những tiếng nói bất khuất, yêu nước. 59 năm tù là một bản án rất nặng đối với 9 nhà dân chủ yêu nước chỉ vì cùng nhau treo một biểu ngữ kêu gọi mọi người bảo vệ đất nước. Lịch sử Việt Nam chắc chắn phải ghi lại 9 tấm gương yêu nước ngày hôm nay đã dám hành động vì đại nghĩa để chống lại Phương Bắc và tập đoàn tay sai lãnh đạo Hà Nội. Nhưng cũng từ bài học của lịch sử, những chế độ bán nước hại dân thì không bao giờ tồn tại lâu dài. Sinh viên Ngô Quỳnh, trong lời phát biểu sau cùng trước tòa án Hải Phòng vào ngày 9 tháng 10 đã nói: “Tôi hãnh diện những điều tôi đã làm và tôi mong thế hệ của tôi và các em của tôi sớm nhìn thấy một Việt Nam độc lập, tự do dân chủ”.

Trung Điền
Ngày 11/10/2009.

Những bất cập về cơ sở pháp lý của Quyết Định 97/2009/QĐ-TTg

22 October, 2009 at 9:21 am | In Bật Mí - bí mật, Diễn Đàn Dân Chủ | Leave a Comment

Phạm Viết Đào

http://viettan.org/spip.php?article9118

Góp ý xây dựng của nhà văn Phạm Viết Đào.

Ngày 24/7/2009, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 97/2009/QĐ-TTg, ban hành Danh mục các lĩnh vực cá nhân được thành lập tổ chức khoa học và công nghệ.

Nghiên cứu văn bản Quyết định 97, chúng tôi thấy quyết định đã căn cứ vào các cơ sở pháp lý sau đây để ban hành: Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001; Căn cứ Luật Khoa học và Công nghệ ngày 09 tháng 6 năm 2000; Căn cứ Nghị định số 81/2002/NĐ-CP ngày 17 tháng 10 năm 2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Khoa học và Công nghệ; Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ…?

Theo chúng tôi, phần căn cứ ban hành Quyết định 97 đã bỏ sót một căn cứ quan trọng, đó là căn cứ theo Điều 15 của Luật Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật (Luật BHVBQPPL) được Quốc hội thông qua ngày 3/6/2008 quy định: Quyết định là loại văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền ban hành của Thủ tướng; loại văn bản này đã quy định các nội dung pháp lý sau đây mà Thủ tướng được phép ban hành trong văn bản quyết định:

“1.Biện pháp lãnh đạo, điều hành hoạt động của Chính phủ và hệ thống hành chính nhà nước từ trung ương đến cơ sở; chế độ làm việc với các thành viên Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các vấn đề thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ.

2.Biện pháp chỉ đạo, phối hợp hoạt động của các thành viên Chính phủ; kiểm tra hoạt động của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp trong việc thực hiện chủ trương chính sách, pháp luật của Nhà nước.”

Căn cứ vào các quy định này của Luật BHCVBQPPL, nghiên cứu nội dung Quyết định 97, chúng tôi thấy nội dung của Quyết định 97 không tương thích với nội dung một văn bản quyết định thuộc thẩm quyền ban hành của Thủ tướng.

Nội dung Quyết định 97 tương thích với một văn bản Thông tư hướng dẫn thi hành Nghị định số 81/2002/NĐ-CP ngày 17 tháng 10 năm 2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Khoa học và Công nghệ; loại văn bản này thuộc thẩm quyền ban hành của Bộ Khoa học-Công nghệ…

Như vậy, nội dung văn bản Quyết định 97/2009/QĐ-TTg mà Thủ tướng đã ban hành đã chồng chéo thẩm quyền và chức năng của Bộ Khoa học và Công nghệ; theo quy định của Luật BHCVBQPPL thì đây mới là cơ quan có chức năng ban hành loại văn bản thông tư hướng dẫn những nội dung đã được nêu trong Quyết định 97 đã ban hành; loại nội dung hướng dẫn thực hiện Nghị định 81/2002/NĐ-CP, là nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Khoa học và Công nghệ…

Căn cứ vào nội dung được thể hiện trong Quyết định 97 đã ban hành thì: loại nội dung pháp lý này không thuộc phạm vi chức trách và thẩm quyền của Thủ tướng chịu trách nhiệm ban hành; mặc dù Thủ tướng là cấp trên của Bộ trưởng, loại nội dung này thuộc thẩm quyền, chức trách của Bộ trưởng Bộ Khoa học-Công nghệ.

Quyết định 97 mà Thủ tướng ban hành không chỉ ” đá lộn sân” của Bộ trưởng Bộ Khoa học-Công nghệ mà còn “đá lộn sân” chức trách của các cơ quan chức năng của Đảng. Thủ tướng mặc dù hiện đang là Ủy viên thường vụ Bộ Chính trị nhưng ông ký quyết định này theo chức trách Thủ tướng, do đó văn bản của Thủ tướng, có một vài chỗ thế chế những quy định của Đảng là không đúng chức trách của Thủ tướng.

Nghị quyết 8/2008 của Bộ Chính trị không có quy định: Các ý kiến phản biện của văn nghệ sĩ, trí thức thì không được công bố công khai mà phải gửi cho các cơ quan chuyên trách của Đảng. Việc Quyết định 97 thể chế công việc này cho các đảng viên trong các hoạt động của Đảng là không thuộc phạm vi chức trách của Thủ tướng.

Như vậy Quyết định 97 là một “cú đá lộn sân“, một sự bao biện chức trách trái các quy định của Luật BHCVBQPPL đã ban hành, do vậy Quyết định 97 không có hiệu lực pháp lý như một văn bản quy phạm pháp luật!

Để khắc phục sự cập kênh về mặt pháp lý này, chúng tôi kiến nghị:

1/ Thủ tướng hủy hoặc thu hồi Quyết định 97/2009/QĐ-TTg và chuyển giao cho Bộ Khoa học Công nghệ thể chế các nội dung trong Quyết định 97 bằng một Thông tư hướng dẫn riêng các quy định đã nêu trong Quyết định 97.

Chuyển nội dung Quyết định 97 thành một công văn hành chính của Thủ tướng yêu cầu, hướng dẫn Bộ Khoa học-Công nghệ triển khai khẩn trương theo tinh thần Thủ tướng, hướng dẫn thực hiện việc thể chế cụ thể Nghị định số 81/2002/NĐ-CP là nghị định hướng dẫn thi hành Luật Khoa học và Công Nghệ.

2/ Để văn bản Thông tư hướng dẫn này chặt chẽ về mặt pháp lý, chúng tôi đề nghị Bộ Khoa học Công nghệ tham mưu cho Thủ tướng trình Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều sau của Hiến pháp 1992 và Luật Xuất bản, Luật Báo chí.

a/ Sửa đổi Điều 60 của Hiến pháp năm 1992 vì lý do:

Tại mục Điều 2, Mục 2 của Quyết định 97 có nội dung quy định các cá nhân thành lập các tổ chức khoa-công nghệ: “Chỉ hoạt động trong lĩnh vực thuộc Danh mục ban hành kèm theo Quyết định này. Nếu có ý kiến phản biện về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước cần gửi ý kiến đó cho cơ quan Đảng, Nhà nước có thẩm quyền, không được công bố công khai với danh nghĩa hoặc gắn với danh nghĩa của tổ chức khoa học và công nghệ…”

Nếu muốn bảo vệ quy định pháp lý này, Chính phủ đề nghị Quốc hội bổ sung nội dung sau đây vào Điều 60 của Hiến pháp 1992 đã ban hành; hiện Điều 60 của Hiến pháp 1992 quy định: “Công dân có quyền nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, phát minh, sáng chế, sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, sáng tác, phê bình văn học, nghệ thuật và tham gia các hoạt động văn hoá khác.”

Nội dung sửa đổi bổ sung thêm vào Điều 60 của Hiến pháp 1992 đó là: “Nếu các ý kiến mang tính chất phản biện thì không được công bố công khai với danh nghĩa hoặc gắn với danh nghĩa của tổ chức khoa học và công nghệ…

b/ Sửa đổi bổ sung Điều 69 của Hiến pháp 1992

Điểu 69 của Hiến pháp 1992, hiện đang được quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật”; nên bổ sung thêm vào Điều 69 thêm phần sau: “Các tổ chức nghiên cứu khoa học độc lập, do các cá nhân thành lập không có quyền này khi công bố các ý kiến mang tính phản biện.”

c. Cần sửa đổi bổ sung một số điều đã quy định của Luật Xuất bản, Luật Báo chí.

Theo các quy định hiện hành của Luật Báo chí, Luật Xuất bản, Giám đốc các nhà xuất bản, Tổng Biên tập các báo là người chịu trách nhiệm và đang được giao quyền công bố các tác phẩm, các công trình nghiên cứu khoa học; nếu các quy định đã được viết trong Quyết định 97 được áp dụng triệt để thì: các tác phẩm văn hóa, văn học nghệ thuật nếu có nội dung dính dáng tới việc phản biện một vấn đề nào đó trong xã hội, bất kể đúng sai, Tổng Biên tập và Giám đốc Nhà Xuất bản đều nghiễm nhiên vi phạm những quy định như đã viết trong Quyết định 97, tức phạm luật?

d. Cần bổ sung sửa đổi Luật ban hành các văn bản quy phạm pháp luật

Nếu không muốn hủy, thu hồi Quyết định 97 thì Thủ tướng trình Quốc hội bổ sung vào Luật BHCVBQPPL thêm 1 điều khoản: Thủ tướng được quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của các Bộ trưởng khi xét thấy cần thiết.

e/ Thể chế, cụ thế hóa Nghị quyết của Bộ Chính trị về công tác trí thức

Điều cuối cũng cần được thể chế minh bạch, đó là Nghị quyết 8 của Bộ Chính trị ban hành năm 2008, trong đó có nội dung khuyến khích trí thức, văn nghệ sĩ tham gia phản biện các chính sách kinh tế-xã hội; Nên sửa đổi quy định về việc phản biện của trí thức, văn nghệ sĩ của Bộ Chính trị, giới hạn chỉ được thực hiện đối với các chính sách của Đảng; các nhà khoa học, văn nghệ sĩ không được phản biện công khai các chính sách, quy định pháp luật của Nhà nước và Chính phủ!

P.V.Đ

Nguồn: Nhà Văn Phạm Viết Đào/phamvietdaonv/article?mid=1875]

Không bịt mắt bịt tai mãi được

21 October, 2009 at 7:35 am | In Bình luận: Ngô Nhân Dụng | Leave a Comment

Ngô Nhân Dụng

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=102808&z=7

Câu chuyện “Anh hùng Lê Văn Tám” là chuyện giả đã được Sử gia Phan Huy Lê nói tới từ năm 2005, trong khi dự một buổi họp của Hãng Phim Truyền Hình Việt Nam; và năm đó nhật báo Người Việt đã đăng tin. Năm nay, Giáo Sư Phan Huy Lê chính thức viết kể đầy đủ câu chuyện giả mạo đó để trả nghĩa với người đồng nghiệp quá cố đã căn dặn nhờ ông cải chính. Kể từ năm 2005 đến nay, cả Bộ Thông Tin lẫn Ban Văn Hóa Tư Tưởng của đảng Cộng sản Việt Nam không nói hay làm một việc gì để xóa bỏ tên Lê Văn Tám trong các sách giáo khoa cũng như trên bảng tên các con đường, các công viên.

Họ “tảng lờ” đi, như không biết, không nghe, không thấy. Nhưng phải nói là họ vừa tự bịt tai, vừa tự bịt mắt! Vì không biết làm gì khác! Thường khi người ta nói dối rồi bị lộ thì có hai cách xử trí: Hoặc là công nhận mình đã nói dối, xin cải chính và xin tha lỗi. Hoặc là chối bay không nhận mình đã nói dối. Và như thế thường phải che khỏa, lấp liếm việc nói dối của mình bằng những lời dối trá mới.

Hiện nay đảng Cộng Sản Việt Nam không công nhận mà cũng không phủ nhận sự thật về vụ Lê Văn Tám. Họ ngậm miệng, bịt mắt và bịt tai. Ðảng tự làm như vậy, để bắt tất cả mọi người làm theo: Không nói, không nghe, không đọc. Báo chí, đài phát thanh, phát ngôn nhân chính phủ, cứ tự bịt mắt, bịt tai, viết, nói những điều hoàn toàn trái sự thật. Tin rằng cứ nói dối mãi thế nào cũng có người tin!

Ðó là chính sách của đảng Cộng Sản được thi hành từ thời 1945. Chính sách là cứ nói dối, nói những điều dối trá trắng trợn khó tin, bất kể sự thật. Ai tố cáo mình dối trá, ai nói ngược lại cũng cứ lờ đi, không thấy, không nghe. Cấm đoán không cho dân chúng được nghe, được thấy, được nói những lời nói khác. Ðợi sau khi đã giết hết những người tố cáo mình dối trá rồi, lúc đó chỉ còn một mình mình có quyền nói thôi, cuối cùng thiên hạ sẽ chỉ biết tin mình, không có cách nào khác.

Năm 1946, Hồ Chí Minh đã ký kết chấp nhận cho quân Pháp đổ bộ lên Bắc Việt thay thế quân Tầu. Mục đích của ông ta là khiến cho các đảng phái quốc gia không còn dựa vào thế lực của Quốc Dân Ðảng Trung Hoa nữa, nhưng ông ta giải thích cách khác. Ông nói một câu nổi tiếng, “Thà ăn cứt thằng Pháp 5 năm còn hơn ăn cứt thằng Tầu suốt đời.” Ai cũng phục là cao kiến, vì lịch sử Việt Nam vẫn còn ghi chép đầy chứng cớ.

Nhưng trong việc thỏa hiệp với quân Pháp, Hồ Chí Minh chỉ cốt có thời giờ để bắt đầu tiêu diệt những người không đồng ý với chủ nghĩa Cộng Sản. Các vụ ám sát, những cuộc tấn công vào trụ sở, căn cứ quân sự của các đảng quốc gia đã gây cảnh huynh đệ tương tàn trong khi kẻ thù đứng trước mặt sắp tấn công! Ðến khi đã thủ tiêu hết đối lập, chiếm độc quyền điều khiển chính quyền kháng chiến rồi, mà muốn “ăn cứt thằng Pháp” nó cũng không cho, thì Hồ Chí Minh bỏ qua câu nói nổi tiếng cũ, quay sang ăn của Tầu. Vì đó không phải Tầu Quốc Gia mà là Tầu Cộng Sản, những đồng chí anh em vô sản quốc tế của ông Hồ.

Theo Giáo Sư Qiang Zhai, trong cuốn “China and the Việt Nam War, 1950-1975” thì giữa năm 1946, khi Cộng Sản Trung Quốc bị quân Quốc Dân Ðảng đánh ở Quảng Ðông, một cánh quân đã chạy sang Việt Nam và được Cộng Sản Việt Nam tiếp tế, đổi lại họ huấn luyện quân sự cho bộ đội Việt Nam. Cộng Sản Tầu có dịp bắt đầu một chương trình “diễn biến hòa bình” ở trên nước Việt Nam sau khi chiếm được lục địa. Ngay từ năm 1950 các cố vấn Ðậu Kim Ba, Ðặng Dật Phàm đã bắt cải tổ quân đội, bãi bỏ những sĩ quan có gốc là học sinh, sinh viên, trí thức, để thay bằng các chiến sĩ gốc bần cố nông hoặc thợ thuyền lên nắm quyền điều khiển quân đội. Ðó là một cách chia rẽ để tiêu diệt sinh lực một dân tộc, tạo nên một lớp người mới chỉ biết học tập theo Mao Chủ Tịch. Lúc các cố vấn Tầu sang chỉ huy từ việc quân sự đến cải cách ruộng đất như thế, thì không còn ai đứng ra tố cáo Hồ Chí Minh đem cả nước đi “ăn” của Tầu nữa!

Vì lúc đó những người đã biết và từng tố cáo Hồ Chí Minh chỉ là cán bộ phục vụ cộng sản đệ tam quốc tế đều đã bị thủ tiêu hoặc phải chạy ra nước ngoài sống cả rồi. Ngay năm 1946, 47, lúc mới bắt đầu cuộc kháng chiến, những người bị giết là những Khái Hưng, Nhượng Tống, Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Giáo Chủ Huỳnh Phú Sổ, cùng bao nhiêu chiến sĩ Quốc Dân Ðảng, Ðại Việt, Phục Quốc khác. Chạy ra ngoài bảo toàn được mạng sống có những Nguyễn Tường Tam, Nghiêm Kế Tổ, Hoàng Ðạo, vân vân. Cuối cùng, chỉ còn các cán bộ cộng sản của ông Hồ chiếm độc quyền ngôn luận, nói gì dân cũng phải tin vì không thấy ai nói ngược lại! Cho nên họ có thể vẽ ra những huyền thoại về Hồ Chí Minh cũng như huyền thoại Lê Văn Tám vậy!

Nhưng liệu đảng Cộng Sản bây giờ có thể cứ theo đúng chính sách bịt tai, bịt mắt, của ông Hồ được hay không? Khó lắm. Vì vào những năm 1945, 50 đầu thời kháng chiến thì phương tiện truyền thông ở nước ta không có bao nhiêu. Nắm được cái loa cầm tay ở đầu làng là làm chủ “thông tin, văn hóa, tư tưởng” được rồi. Còn bây giờ trên trái đất đã có Internet, ở Việt Nam nhiều nơi cũng có. Cho nên nói dối bây giờ rất khó. Không ai có thể nói dối tất cả mọi người mãi mãi được.

Có lẽ ông Trần Huy Liệu cũng biết trước như vậy, cho nên ông đã ủy thác cho sử gia Phan Huy Lê làm công việc cải chính huyền thoại Lê Văn Tám. Bởi vì ngay trong thời gian Trần Huy Liệu dựng ra chuyện đó, đã có người nghi ngờ là một thiếu niên sau khi tẩm xăng tự đốt thì không thể chạy xa để tới gần kho xăng được. Lý luận này đăng trên tờ báo Thời Mới ở Hà Nội, một tờ báo ngoài tầm kiểm soát của cộng sản. Ngoài ra, một vụ đốt cháy kho xăng lớn thế nào cũng có nhiều người tham dự, chủ mưu; sẽ có ngày họ xuất hiện nói lên sự thật; khi đó thần tượng Lê Văn Tám cũng sẽ bị lật mặt giả dối. Ðối với Trần Huy Liệu, tốt nhất là tự mình tìm cách cải chính chuyện gian dối đó, để khi chuyện lộ ra thì mình đỡ mang tiếng.

Nhưng là người đi theo cộng sản đã lâu năm, ông Trần Huy Liệu biết tự bảo vệ tính mạng mình. Xóa bỏ một huyền thoại do đảng dựng lên là điều nguy hiểm. Vì không những nó làm cả hệ thống thần linh của đảng bị mất một huyền thoại mà còn làm cho người ta nghi ngờ cả hệ thống đó còn nhiều điều gian trá khác. Người ta sẽ hỏi, “Sau Lê Văn Tám là ai?” “Lê Văn Tám đã vậy, còn Võ Thị Sáu, còn Minh Khai, còn Hồ Chí Minh thì sao? Cái gì thật, cái gì giả?” Một sự không tin, vạn sự không tin, người dân sẽ nghi ngờ cả đảng cộng sản! Cho nên ông Trần Huy Liệu không dám tự mình viết, dù chỉ viết một câu thôi, thí dụ: “Tôi, Trần Huy Liệu, xác nhận câu chuyện Lê Văn Tám tẩm xăng tụ đốt là hoàn toàn do tôi bịa đặt vì nhu cầu tuyên truyền để kháng chiến chống Pháp.” Viết một câu như thế mà ai bắt được thì chắc chắc sẽ bị thủ tiêu, bị đắm đò hay xe đụng lúc nào không biết!

Cho nên ông Trần Huy Liệu muốn cải chính nhưng cũng chỉ dám dặn dò bằng lời nói, không dám viết một chữ. Lúc đó là vào thập niên 1960, ông Phan Huy Lê cũng không dám xin ông Liệu viết mấy chữ làm bằng cớ. Vì có đứa nào nó tố cáo, bị bắt với bằng cớ đó thì cả hai thầy trò sẽ khó sống.

Nhưng tại sao đến bây giờ ông Phan Huy Lê mới chính thức công bố câu chuyện Lê Văn Tám? Thực ra thì giới sử học ở Việt Nam đã “thăm dò” vấn đề này qua những bài viết tên tạp chí Xưa và Nay trong năm 2003, và báo Thế Giới từ năm 2004 rồi. Năm 2005, ông Phan Huy Lê đã nói đầy đủ hơn, một cách bán chính thức, trong một cuộc họp về phim truyền hình, nhưng chưa chính thức viết ra. Ðến năm nay thì ông đã viết thẳng thành bài, vì không khí trong cả nước Việt Nam đang thay đổi.

Bây giờ người dân Việt Nam không còn tin đảng Cộng Sản nữa, mà cũng không còn sợ nữa. Cả guồng máy tuyên truyền đang trở thành bất lực, nói cái gì người dân cũng nghi là dối trá. Các mạng lưới thông tin mới đóng góp với hệ thống tin đồn, rỉ tai cũ của người dân. Sang thế kỷ 21 này, việc nói dối còn khó hơn thời 1960. Ai muốn trình bày một sự thật nào, thì đây là lúc có thể nói ra. Trước chính sách bịt mắt, bịt tai của đảng Cộng Sản, bất cứ ai giúp cung cấp thông tin, mở mang kiến thức của đồng bào, thì bây giờ là lúc nên làm!

Một dấu hiệu cho thấy dân Việt Nam không còn sợ nữa, là quyết định tự giải tán của các nhà lãnh đạo Viện Nghiên Cứu Phát Triển (IDS). Trước “quyết định số 97” của Nguyễn Tấn Dũng bịt mồm bịt miệng giới nghiên cứu khoa học, phản đối mãi không được việc gì, các nhà nghiên cứu chỉ có cách bày tỏ sự phản kháng là tự đóng cửa.

Ngày 14 Tháng Mười vừa qua, Nguyễn Tấn Dũng lại dọa rằng sẽ “xử lý những phát biểu thiếu tinh thần xây dựng của một số cá nhân thuộc Viện Nghiên Cứu Phát Triển.” Thái độ này cho thấy cả guồng máy thống trị của đảng Cộng Sản vẫn theo chính sách cũ từ thời Hồ Chí Minh: Bịt miệng thiên hạ. Không bịt miệng được thì dọa sẽ “xử lý!” Dọa rồi mà vẫn không công hiệu thì dọa nữa! Có thể nói trong việc đối phó với phong trào đứng lên đòi quyền được tự do phát biểu của giới trí thức Việt Nam, đảng Cộng Sản đang lâm vào ngõ bí.

Trong khi đó, giới trí thức Việt Nam đã phản ứng với thái độ dũng cảm hơn: Không sợ. Ông Nguyễn Quang A, nguyên viện trưởng IDS còn gửi thư lên Bộ Tư Pháp và Quốc Hội đòi “xử lý” cái Quyết Ðịnh 97, phi pháp và xâm phạm quyền làm người đó. Ông sẵn sàng đi theo nhưng ông Phạm Văn Trội, Vũ Hùng, Nguyễn Xuân Nghĩa, và hàng chục nhưng nhà trí thức khác đã vào tù vì lên tiếng đòi các quyền dân chủ tự do cho tất cả mọi người dân Việt Nam.

Người Việt Nam khắp nơi hoan nghênh những người có thái độ can đảm của các nhà trí thức đòi tự do dân chủ. Họ tin tưởng vào khả năng xét đoán của dân Việt Nam, cho nên họ can đảm nói lên khát vọng tự do của toàn dân, và trình bày những sự thật mà đảng cộng sản vẫn che dấu. Người Việt Nam có quyền được nghe, được thấy, được tiếp nhận các thông tin đúng. Không ai có quyền bịt mắt bịt tai một dân tộc.

Chế độ cộng sản độc quyền trước Đại Hội XI: bức tường thành đang vỡ

20 October, 2009 at 7:08 am | In Bình Luận, Diễn Đàn Dân Chủ | Leave a Comment

Bùi Tín

http://viettan.org/spip.php?article9111

I. Bức tường Berlin của Bộ chính trị Hà Nội:

Lãnh đạo Cộng sản Việt nam đang ráo riết chuẩn bị cho Đại hội đảng XI, sẽ họp vào đầu năm 2011. Trong cả năm 2010 sẽ họp đại hội cấp cơ sở, cấp huyện, tỉnh, đại hội các đảng bộ quân đội, công an, các ngành và cơ quan trung ương.

Các văn kiện chính đang được dự thảo, trong đó quan trọng nhất là Báo cáo chính trị của nhiệm kỳ X, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội(!), Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm 2010-2020. Báo cáo về sửa đổi, bổ sung điều lệ đảng. Kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế-xã hội 2010-2015…

Ý đồ bao trùm của lãnh đạo, của bộ chính trị hiện nay trong chuẩn bị và tiến hành Đại hội XI là dùng mọi thủ đoạn chính trị từ tinh vi đến lộ liễu để phòng ngự cố thủ, bảo vệ bằng mọi giá bức tường thành ọp ẹp: chế độ độc quyền đảng trị, một mình một chiếu, mua thêm thời gian để thu lợi riêng cho bản thân, gia đình, phe cánh… bất chấp bất công xã hội, chênh lệch giàu nghèo lên đến cực điểm, vượt xa thời kỳ phong kiến và thực dân.

Hơn 10 năm trước Linh mục Nguyễn Văn Lý đã cho rằng chế độ “Việt nam Dân chủ Cộng hòa” thật ra là “Việt nam Độc chủ Cộng sản”, với 3 tiêu đề: “Chưa độc lập, Thiếu tự do, Không hạnh phúc”. Họ thâm thù Lm. Lý, bịt mồm ông, bỏ tù ông vì ông chỉ ra một sự thật, trúng vào chỗ yếu chí mạng, gót chân Asin của họ.

II. Căn nguyên của mọi tai hoạ:

Hiện nay, khi chuẩn bị cho Đại hội XI, tình hình không còn như 5, 10 năm trước. Đông đảo đồng bào trong nước, đông đảo trí thức và tuổi trẻ, kể cả đông đảo đảng viên và đoàn viên cộng sản ngày càng nhận rõ sự tệ hại, xấu xa, nguy hiểm của độc quyền đảng trị, cái hay, tiến bộ, lợi ích to lớn của một chế độ dân chủ đích thật, dựa trên quyền tự do của toàn dân, trong một xã hội dân sự phát triển.

JPEG - 63.6 kb
Giáo sư Vũ Hùng đi tù vì đã treo biểu ngữ : “Tham nhũng là hút máu dân, để mất đất mất biển là có tội với Tổ tiên…”.

Lãnh đạo cộng sản hiện coi dân chủ là kẻ thù, là nguy cơ số một của họ. Họ coi các chiến sỹ dân chủ yêu nước dấn thân cho tự do của nhân dân là kẻ tội phạm cần trừng trị, vu cáo và tiêu diệt. Họ thâm thù luật sư Lê Thị Công Nhân vì cô gái chân yếu tay mềm này dám công khai tuyên bố “dù cho chỉ còn một mình tôi, tôi vẫn tiếp tục đấu tranh cho tự do của đồng bào tôi”.

Họ thâm thù nhà giáo Vũ Hùng vì ông khảng khái nhận trước tòa án chính ông viết biểu ngữ: “Tham nhũng là hút máu dân, để mất đất mất biển là có tội với Tổ tiên…”, không hề ân hận vì đó là sự thật toàn dân ta cần biết rõ.

Họ run sợ dân chủ đến mức cấm tư nhân, có nghĩa là cấm toàn dân, cấm mọi công dân ra báo và viết báo, tự xoá bỏ điều then chốt trong Hiến pháp về quyền tự do tư tưởng và ngôn luận của mọi công dân; họ ngang nhiên cấm công dân, trí thức không được phản biện, vu cáo 4 ngàn trí thức ký kiến nghị ngừng khai thác bô-xít ở Tây nguyên là không hiểu biết gì(!), bị phản động(!) lôi kéo, là phá rối(!)…

Họ sợ hãi dân chủ trong xã hội cũng như trong đảng, vì khi dân chủ được thực hiện thì làm sao họ còn có thể ém nhẹm được vụ án siêu nghiêm trọng Tổng cục 2, liên quan đến các vụ án Năm Châu, Sáu Sứ, đến vụ án T4… đã được điều tra và sơ bộ kết luận bởi một Ban kiểm tra Liên ngành được thành lập ngay trước Đại hội X năm 2006. Họ kinh hoàng trước xu hướng đòi dân chủ nội bộ đảng có thể trỗi dậy, chất vấn họ về các vụ án trên đây, khi họ trót hẹn về công khai, minh bạch, về xây dựng chế độ pháp quyền, còn thế thốt “đảng không làm thay chính quyền, từ nay đảng chỉ đề nghị, gợi ý và nêu gương” (trong Báo cáo của Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh tại Đại hội VII – tháng 6-1991). Nói đó rồi lại nuốt lời như không!

III. Từ Leipzig đến Berlin 20 năm trước:

JPEG - 15.8 kb
Leipzig – 9-10-1989 : 70 ngàn dân Đức biểu tình đòi dân chủ.

Năm nay là kỷ niệm chẵn 20 năm Bức tường Berlin sụp đổ. Ngày 9/10/2009 vừa qua nhân dân Đức đã tổ chức tại thành phố Leipzig kỷ niệm lớn đánh dấu 20 năm cuộc biểu tình của 70 ngàn dân Đức ngày 9-10-1989, một cuộc biểu tình hoà bình, thắp nến đòi dân chủ và tự do, đòi kết thúc chế độ độc quyền đảng trị của đảng cộng sản (mang tên đảng xã hội thống nhất Đức), đòi phá bỏ bức tường ô nhục Berlin. Cuộc biểu tình cực kỳ căng thẳng, hừng hực khí thế, đối diện với xe tăng, quân lính, cảnh sát, công an dày đặc của chính quyền cộng sản đã chuẩn bị nổ súng, đàn áp; nhưng khi nhân dân hô lớn: “chúng tôi là nhân dân đây!”, “tự do là quyền sống!”, “không bắn vào nhân dân!”… thì một số binh lính, công an, cảnh sát bắt đầu nhận những bó hoa của các em nhỏ, chị em sinh viên, các bà nội trợ, và thế là súng không nổ, mọi người hân hoan, chan hoà, cùng hát những bài hát dân gian, thánh ca công giáo, bài hát hoà bình. Cảnh sát, binh lính chĩa súng xuống đất, xe tăng quay lui…

Ngay hôm sau, biểu tình hòa bình lan nhanh đến Plauen, Dresden và Đông Berlin, từ 50 ngàn đến 80 ngàn dân xuống đường, đòi dân chủ, tự do, kết thúc chế độ độc đảng, phá bỏ tường Berlin; họ ca hát, nhảy múa, tay cầm nến và hoa, lắp lại lời hô: “chúng tôi là nhân dân!”, “nhân dân muốn sống tự do” và nhân dân toàn thắng!…

Chỉ sau sự kiện Leipzig một tháng, bức tường Berlin sụp đổ tan tành vào sáng 9-11-1989, Ngày Lịch sử vào loại lớn nhất của Thế giới trong thế kỷ XX.

Phong trào đòi dân chủ ở Đức được tiếp sức bởi phong trào dân chủ ở Tiệp, Ba lan, Hungari, Rumani cũng như từ Liên xô, nên Bức tường Berlin kiên cố, dài 155 kilômét, xây dựng từ tháng 8-1961, bảo vệ chế độ độc quyền cộng sản ở Đông Đức, Đông Âu và Liên xô, tưởng như vững bền, đã tan vỡ chỉ trong một buổi sáng 9-11, trước khát vọng tự do của hàng triệu con người, trong tay chỉ có truyền đơn, biểu ngữ, ngọn nến cành hoa, với tình cố kết cộng đồng dân tộc.

Sáng 9-11-1998 ấy cả dân tộc Đức ôm nhau, cười và khóc. Sướng quá! Bất ngờ quá!

JPEG - 77.1 kb
1961 : Trong giai đoạn xây bức tường tại Bá Linh, một binh sĩ Đông Đức bỏ súng nhảy hàng rào kem gai sang Tây Đức
1989 : Hàng chục ngàn người Đông và Tây Đức vui mừng khi bức tường ô nhục sụp đỗ.

IV. Thế cùng tất biến! Tình thế không còn có thể chịu nổi:

Vậy thì từ lịch sử và từ thực tế nước ta, trước mắt, người Việt yêu nước, yêu tự do sẽ làm gì để phá đổ bức tường thành độc đảng? Xin được bàn như sau:

- Hãy nhận rõ thời cơ dành tự do và dân chủ cho toàn dân đã đến. Chế độ độc đảng đã tự phơi bày rõ bản chất tệ hại của nó. Độc đảng Liên Xô đã giết hại 60 triệu sinh mạng do thanh trừng phe phái, tiêu diệt trôskít, tập thể hoá nông thôn, tận diệt trí thức, tôn giáo, đày ải người chống đối trong các trại tập trung goulag ở Siberi. Độc đảng Trung quốc đã giết chết 37 triệu 55 vạn sinh mạng trong “đại nhảy vọt”, giết chết 52 vạn 2.877 trí thức, đảng viên trong cách mạng văn hoá vô sản; trong đó người bị tra tấn khủng khiếp nhất là chủ tịch nước Lưu Thiếu Kỳ (cùng vợ Vương Quang Mỹ bị bỏ đói sau những trận đánh đập thê thảm, ông chỉ còn 7 chiếc răng lung lay, ông bà chết như kẻ ăn mày kiệt sức…); và các nguyên soái Bành Đức Hoài, Chu Đức, Hạ Long… chết trong đau đớn kinh hoàng và ô nhục (theo Giáo sư Trung quốc Tấn Tử Lăng trong cuốn “Ngàn Năm Công Tội “). Độc đảng Việt nam đã giết hàng ngàn người yêu nước thuộc Quốc dân đảng, Đại Việt, Duy Dân, Đồng Minh hội, Duy Tân, Tân Việt, Dân xã, Lập hiến, Trôskít…; giết oan 20.493 địa chủ “cường hào gian ác” (theo thống kê của trung ương đảng CS) là địa chủ thường, trung nông thành thạo nghề nông và là đảng viên – trí thức, trong Cải cách ruộng đất; bắt giam, tra hỏi, đày đoạ hàng loạt sỹ quan QĐND trong vụ án không xét xử mang tên “Xét lại chống đảng“; giết, giam cầm, đày đoạ hàng ngàn văn nghệ sỹ, nhà văn, trí thức, sinh viên, học sinh trong vụ Nhân văn-Giai phẩm (với đấu tố, truy lùng Nhân văn trung ương, NV tỉnh, NV huyện, NV xã – từ Hànội, sang Hải phòng, xuống Nam định, vào Thanh nghệ Tĩnh…); sau 30/4/1975, đày đoạ hơn 20 vạn viên chức, sỹ quan, đảng viên các đảng phái của Việt Nam Cộng hòa trong các trại giam tàn bạo (mang tên trại cải tạo). Sau đó do chính sách trả thù, phân biệt đối xử, chính sách hợp tác hoá, kinh tế mới và cải tạo cưỡng bức, tạo nên 2 triệu thuyền nhân bi thảm, trong đó hàng chục vạn đồng bào chết thê thảm trong biển cả.

Những năm gần đây, tuy trong các tài liệu chính thức, bộ chính trị nói khá nhiều về “đổi mới cơ chế chính trị”(?), về “thực hiện dân chủ”(!), về xây dựng “xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”(!), nhưng trong việc làm thì ngược lại. Họ một mực duy trì chế độ độc quyền đảng trị, đàn áp các nhà dân chủ một cách tàn bạo với những phiên tòa tiền chế, không kể gì đến biện hộ của luật sư, không cần gì chứng cớ, chụp mũ bừa các nhà dân chủ gan góc là xâm phạm an ninh(!), là nói xấu chế độ(!), trong khi chính những việc làm phi pháp, thất nhân tâm của họ, hà hiếp dân oan, bao che tham nhũng, ươn hèn cúi đầu trước bọn bành trướng mới thật sự là bôi xấu chế độ, xâm phạm an ninh quốc gia một cách nghiêm trọng nhất.

Sự lạc hậu triền miên của nước ta về sản xuất, về đời sống, về y tế, giáo dục, về tự do báo chí, về nhân quyền, về cách biệt giàu nghèo, về thực thi luật pháp, đều ở mức dưới hơn 100 nước khác theo thống kê quốc tế, đều bắt nguồn sâu xa từ chế độ độc quyền đảng trị, không thể đổ lỗi cho chiến tranh đã chấm dứt từ lâu.

Thiếu vắng dân chủ là thiếu vắng tệ hại nhất, nguy hiểm nhất, là thiếu vắng dưỡng khí cho xã hội ta hơn nửa thế kỷ nay, đang trong tình trạng ngột ngạt, nghẹt thở, toàn dân không còn chịu đựng nổi!

Các nhà lãnh đạo cộng sản hãy ghi nhớ điều này: theo thống kê của Liên hợp quốc, Việt nam không có mặt trong số 44 nước đã có dân chủ đầy đủ, cũng không có mặt trong số 72 nước dân chủ từng phần, chỉ có mặt trong số nước độc đoán, không có dân chủ, không có bầu cử tự do, không có tự do báo chí, không có tự do tôn giáo. Việt nam được xếp hạng cuối, bên cạnh Cuba, Trung Quốc, Bắc Hàn, Miến điện, Somalie, Angôla, Zimbabuê, Nigiêria… về quyền dân chủ. Thật đẹp mặt cho bộ chính trị ở Hànội!!!

Thế mà họ vẫn rêu rao về mục tiêu xây dựng xã hội công bằng(!), dân chủ(!), văn minh(!). Độc đảng, độc quyền đảng trị đối lập với dân chủ như nước với lửa, là thủ tiêu dân chủ, coi dân chủ là thù địch. Dân chủ độc đảng chỉ là dân chủ kiểu ban ơn, bố thí, dân chủ kiểu “xin – cho”, dân chủ bị thiến, giả dân chủ ở cơ sở(!) độc tài ở bên trên, dân chủ bịt miệng(!), cấm phản biện (!), một nền “dân chủ” quái dị.

Sang Tàu thì còng lưng, khúm núm, về nhà thì hung hăng bịt mồm người nói điều ngay thật

Vậy thì mọi lực lượng lành mạnh của dân tộc, mọi người Việt yêu nước thật lòng, thương dân thật lòng, trong và ngoài nước, giang tay kết đoàn, lấy mẫu số chung là “xóa bỏ chế độ độc quyền đảng trị, xây dựng nền dân chủ đích thật theo chế độ dân chủ đa đảng“, như Cam bốt, Thái lan, Nam dương, Đài loan, Đại hàn, đều vốn là những nước độc quyền đảng trị ở châu Á, đã sớm sủa chuyển hẳn sang chế độ đa đảng trong ổn định và hoà bình, hòa nhập trọn vẹn với thế giới dân chủ.

Không phải ngẫu nhiên mà nhiều nhà bình luận sắc sảo, bút pháp thận trọng, đắn đo từng câu từng chữ, phải nói đến “quá đáng ngang ngược”, “quá thể hung bạo”, “tận cùng vô liêm sỷ”, “cực kỳ ươn hèn”, cho đến cả: “việc làm phản quốc“, “thái độ Việt gian“, “bất nhân, thất đức, bán nước cầu vinh, quả báo nhãn tiền“, “dân không còn chịu nổi”… để nói về bộ chính trị và cái trung ương đảng hiện nay. Đó là vì chống tham nhũng thì qua loa, phù phép, diệt dân chủ thì thẳng tay, còn liên kết với mafia-xã hội đen; sang Tàu thì còng lưng, khúm núm, về nhà thì hung hăng bịt mồm người nói điều ngay thật; miệng leo lẻo nói tôn trọng tự do tôn giáo nhưng lệnh cho công an – xin lỗi bạn đọc – “bóp dái” mục sư, đánh trọng thương linh mục, hành hung đoạ đày các em tu sỹ Bát Nhã bị bỏ đói giữa đêm mưa to gió lạnh trong rừng sâu núi thẳm. Chính bộ chính trị độc đảng đổ dầu vào lửa, có những hành động cực kỳ quá đáng, gây nên “thế cùng tất biến!”.

V. Lực lượng đòi dân chủ tự do là vô tận:

Một lực lượng công dân ngày càng đông đã đứng dậy đòi tự do dân chủ, nhân quyền, chống độc quyền đảng trị với một khí thế tự tin, công khai. Cùng với các chiến sỹ dân chủ gan góc được bà con trong nước, hải ngoại và dư luận quốc tế ngưỡng mộ, được các tổ chức nhân qưyền quốc tế tôn vinh bằng các giải thưởng lớn, là cả một đội ngũ các nhà luật sư từ cụ Trần Lâm, anh Cù Huy Hà Vũ đến cô Lê Thị Công Nhân, Tạ Phong Tần…, rồi một loạt các nhà báo, blogger gan góc mang tên ngộ nghĩnh: Mẹ Nấm, Điếu Cày, Người Buôn Gió, Bố Cu Hưng, Blog Beo…, một loạt văn nghệ sỹ như các nhạc sỹ Tô Hải, Tuấn Khanh, các nhà văn Võ Thị Hảo, Phạm Đình Trọng, Tô Đức Chiêu, Nguyễn Quang Thân, Trần Huy Quang, Lê Phú Khải, Nguyễn Khắc Trường, Nguyễn Trọng Tạo.., nhà thơ Bùi Chí Vinh, hoạ sỹ Trần Nhương… Rồi các dũng sĩ khoa học lớn tiếng đòi ngừng ngay việc khai thác bô-xít, toàn là trí thức đầu ngành khai khoáng, luyện kim, công nghệ, môi trường, am tường chuyên môn, nói có sách, mách có chứng, lôi cuốn 3 ngàn trí thức trong và ngoài nước cùng công khai ký tên, lập ra mạng bauxite Vietnam.info được người vào đọc hằng ngày gấp trăm lần mạng của đảng CSVN. Rồi lại còn cái túi khôn (hay bể chứa khôn) duy nhất ở Việt nam mang tên Viện nghiên cứu phát triển IDS do 16 trí thức tự do cầm đầu bị bức tử bởi lệnh trâng tráo cấm phản biện, chỉ làm bật dậy ý chí quật cường của kẻ sỹ dân tộc trước hiểm hoạ nội gián và xâm lược. Gần đây, ông thủ tướng Dũng còn đòi “xử lý”(!) các trí thức của IDS “vì thiếu tinh thần xây dựng”(!), nhưng ông có biết chỉ thị 97 cấm phản biện là ngang nhiên chà đạp Điều lệ đảng CS ghi rõ tự phê bình, tiếp thu phê bình là nguyên tắc xây dựng đảng, là nguyên lý sinh hoạt đảng, hay không? Vậy ai phá hoại đảng?!

Gần đây, khi 400 em tu sinh Bát nhã bị khủng bố thê thảm, lập tức nhà văn Hoàng Hưng bật dậy được 300 công dân yêu nước hưởng ứng công khai ngay, cũng là một nghĩa cử mới mẻ, quật khởi rất đúng hướng.

Quốc hội sắp họp hãy trả lời cho cử tri về bức tranh bi thảm trên đây. Hội nghị Trung ương ĐCS thứ 12 để thông qua các văn kiện lớn hãy phân tích và giải đáp tình hình chưa hề có như trên ở nước ta. Đại hội XI của đảng CS có dám nhìn thẳng vào sự thật như trên để tìm ra nguyên nhân hay không?

Ở Việt nam hiện nay, bức tường vô hình nguy hiểm là chế độ độc quyền đảng trị.

Bộ chính trị hiện tại có dám lại kêu gọi – như các đại hội trước – toàn dân và toàn đảng ngay thật góp ý với đảng về các văn kiện sẽ được công bố hay không? Cả nước sẽ không chịu nổi những văn kiện nói lấy được, ba hoa giáo điều, đẹp tý chút thì phô ra, xấu xa cả đống thì đậy chặt lại, cả nước nhân đó mở to mắt và phản biện quyết liệt thì họ sẽ làm gì?

Ở Việt nam hiện nay, bức tường vô hình nguy hiểm là chế độ độc quyền đảng trị, nguyên nhân của muôn vàn đau thương, ô nhục suốt hơn nửa thế kỷ của dân ta, đã rệu rã, sứt mẻ từng mảng lớn. Uy tín của lãnh đạo không còn. Tính chính đáng của chính quyền chỉ còn mong manh, hoàn toàn giả tạo vì không do cử tri lựa chọn, do đảng tư túi kén chọn rồi ép dân bầu. Gót chân Asin của nó là ở đó.

Một cuộc thay đổi so sánh lực lượng đang diễn ra, ngấm ngầm nhưng rõ rệt.

VI. Những sự kiện Leipzig của Việt nam:

Có thể nói Việt nam đã có những Leipzig của mình, và đang có thêm những Leipzig mới. Vụ Thái Hà là một Leipzig nhỏ của Việt nam. Giáo dân thắp nến cầu nguyện, còn kiện lại nhà nước bịa đặt là giáo dân đã nhận tội. Báo chí vu cáo Ngài Ngô Quang Kiệt bằng thủ đoạn cắt xén tuyên bố của Ngài, bị công luận chỉ mặt vạch tội, cả thành uỷ CS ê mặt vì báo Hànội Mới là cơ quan ngôn luận chính thức của thành uỷ. Ba ngàn trí thức kiến nghị đòi ngừng khai thác bô-xít và Mạng Bô-xít là một Leipzig nữa. Cuộc hôi luận về Biển Đảo do 400 trí thức dân tộc tự tổ chức không cần xin phép ai cũng là một Leipzig Việt. Cuộc xuống đường của 200 ngàn giáo dân vùng Xã đoài, mang cờ đạo, thắp nến, yên lặng, trang nghiêm nghe rao giảng về tình thương thay cho oán thù, yểm trợ giáo dân Tam toà bị công an và lưu manh hành hung cũng là một Leipzig Việt nam, với nghĩa là cuộc tập dượt, biểu dương, đọ sức, thúc đẩy phong trào đấu tranh không bạo động nhưng căng thẳng, quyết liệt, không nhân nhượng với bạo quyền phản dân chủ. Mỗi cuộc Leipzig-Việt nam lớn nhỏ, là một mảng tường của chế độ độc quyền đảng trị sập đổ, vỡ nát…

JPEG - 191.8 kb
Tại Việt Nam hiện nay đang có những Leipzig nhỏ đang bùng lên…

Cuối năm 2009 và suốt năm 2010, lực lượng dân chủ Việt nam với dự trữ sức lực vô tận, bắt nguồn từ lòng dân, từ hồn thiêng dân tộc, từ thế lực dân chủ quốc tế, sẽ phô trương sức mạnh của mình, với nhiều, rất nhiều Leipzig Việt nam nữa.

Điều thú vị là nhiều đảng viên CS cấp cao như ông Mười Hương, ông Nguyễn Trung, ông Vũ Khoan, trung tướng Đặng Quốc Bảo… cũng đòi thực thi dân chủ trong đảng và ngoài xã hội. Cả một loạt đảng viên ngừng sinh hoạt, trả thẻ đảng vì chọn dân chủ cho nhân dân, không còn chịu nổi chế độ đảng trị. Và cả nhóm chuyên viên Đại học Harvard tại Hànội cũng 2 lần khẩn thiết khuyến cáo Bộ chính trị Hànội phải thay đổi hẳn thể chế (từ độc đoán sang dân chủ; từ kinh tế quốc doanh là chủ đạo sang bình đẳng các loại sở hữu), nếu không mọi đổi mới chỉ là xoa bóp để chữa một căn bệnh hiểm nghèo!

Để rồi nhân dân Việt nam ta sẽ có một buổi sáng lịch sử 9-11-1989 (ngày bức tường Berlin sụp đổ) của mình, khi bức tường thành toàn trị Việt nam là chế độ độc đảng lạc lõng, tệ hại, đã từ lâu thuộc về dĩ vãng tối tăm, nhưng vẫn gượng gạo tồn tại, sẽ sụp đổ tan hoang trước sức mạnh và ý chí quật khởi của toàn dân.

Ngày nào? Tuỳ ở mỗi một chúng ta, tuỳ ở toàn dân ta. Xin nhớ: ngày 7-10-1989 Quốc khánh chẵn 40 năm Cộng hoà dân chủ Đức, thủ lãnh cộng sản Honecker ba hoa: “Bức tường Berlin sẽ tồn tại sang thế kỷ sau”, thì nó chỉ tồn tại thêm có 33 ngày đêm(!), để đổ sập vào sáng 9-11-1989, dẫn đến sự rẫy chết của chế độ độc đảng, đảng trưởng Honecker bị kết án tử hình, được hạ xuống chung thân do trọng bệnh, để chết ở tận Chilê xa xôi, quê hương của con rể ông ta.

Lịch sử là thế. Cuối cùng công bằng là thế. Sức dân là thế.

Ngày chế độ độc qưyền đảng trị ở Việt nam biến mất sẽ đến. Bộ chính trị Hànội lo sợ chỉ còn biết dơ lên con ngáo ộp “rối loạn, hỗn loạn, máu chảy…” để hù doạ.

Lực lượng hùng hậu dân chủ, yêu nước, trong sạch, tinh hoa dân tộc hiện tại có thừa tâm huyết và mưu lược để cùng toàn dân xây dựng nền dân chủ chân chính trong hòa bình và luật pháp nghiêm minh, đưa nền chính tri – văn hoá – kinh tế nước Việt nam lên một tầng cao văn minh mới, đưa lại phát triển và phồn vinh cho toàn xã hội, hoà nhập trọn vẹn với thế giới dân chủ hiện đại.

Bùi Tín
Paris 18-10-2009.

Bọn phản quốc xử Người yêu nước !

16 October, 2009 at 9:37 am | In bán nguyệt san Tự do Ngôn luận | Leave a Comment

Bọn phản quốc xử Người yêu nước !

Xã luận bán nguyệt san Tự do Ngôn luận số 85 (15-10-2009)

Thủ tướng Việt cộng Nguyễn Tấn Dũng đang trên đường viếng Trung Hoa từ ngày 15 đến 17 tháng 10 này. Ông ta sẽ gặp Thủ tướng Trung cộng là Ôn Gia Bảo tại tỉnh Tứ Xuyên, khi tới dự Hội chợ triển lãm quốc tế miền Tây lần thứ 10 tại Thành Ðô thủ phủ. Đây thực chất là cuộc bái yết và triều cống quan thầy Trung cộng, bởi lẽ trong dịp này, Hà Nội sẽ trao đổi về việc hai bên ký kết các văn kiện quan trọng nhằm hoàn tất quá trình xác định đường biên giới trên đất liền, để Việt Nam vĩnh viễn dâng tiến cho Trung Hoa nhiều mảnh đất của tiên tổ hầu đền bù việc Trung cộng đã cưu mang giúp đỡ Việt cộng trong cuộc xâm chiếm miền Nam trước đây cũng như tạ ơn việc Bắc Kinh nay đổ ra khoảng 50 tỷ đô-la cứu nguy nguy nền kinh tế và tài chánh VN trên bờ vực thẳm.

Chưa hết, trong hành lý của Nguyễn Tấn Dũng còn vô số món quà kính biếu Đại ca nữa. Đó là những cuộc xử lý xử án nhiều vụ việc có liên quan đến Trung cộng mà thời gian gần đây, cả quốc nội lẫn hải ngoại và quốc tế không ngớt bàn tán với sự kinh ngạc và lòng công phẫn.

Xa nhất và cũng gần nhất là vụ xử lý Hoàng thành Thăng Long. Theo tin của SBTN ngày 14-10, bất chấp nhiều ý kiến phản đối của giới chuyên gia và trí thức trong lẫn ngoài nước, nhà cầm quyền CSVN nhất quyết xây tòa nhà Quốc hội mới đè lên quần thể di tích lịch sử văn hóa quan trọng và ý nghĩa nhất của Việt Nam là Hoàng thành Thăng Long, công trình của triều Lý và triều Trần, hai triều đại mà Trung Quốc coi là kẻ thù số một. Ba ngày sau khi ký quyết định phê duyệt dự án đầu tư xây dựng nhà Quốc hội (vốn đã được chuẩn bị từ năm 2002), hôm 13-10-2009, Nguyễn Tấn Dũng đã phát lệnh khởi sự công trình (ước tính khoảng 268 triệu mỹ kim) và bổ nhiệm Hoàng Trung Hải là Phó Thủ tướng làm trưởng ban xây dựng. Đây là việc xử lý dứt điểm không những đối với giới chuyên viên khoa học lịch sử và giới tướng lãnh quân đội có lòng yêu nước, mà còn cả đối với hai triều đại ái quốc từng chống Trung Hoa để bảo vệ đất Việt. Phải chăng đây là bước chuẩn bị cho năm Hữu nghị Việt-Trung 2010 vốn sẽ làm lu mờ lễ kỷ niệm Ngàn năm Thăng Long mà ai trong dân Việt cũng mong đợi?

Tiếp đến là vụ xử lý các nhà dân báo (bloggers) vào tháng 8+9-2009. Đầu tháng 8-09, nhà dân báo Osin, tức ký giả Huy Đức, đã bị báo Sài Gòn Tiếp Thị sa thải sau khi ông đăng trên blog của mình các bài viết phản đối Trung cộng và tình trạng vi phạm nhân quyền dưới thời Liên bang Xô viết. Ngày 27-8-09, nhà dân báo Người Buôn Gió, tức ông Bùi Thanh Hiếu, đã bị bắt sau khi đăng loạt bài Đại Vệ Chí Dị (mỉa mai quan hệ Trung-Việt) và nhận phân phối một số áo có in hàng chữ “Hoàng Sa-Trường Sa là của VN”. Ngày 28-8-09, nhà dân báo Trang Ridiculous, tức ký giả Phạm Đoan Trang của báo VietnamNet, đã bị công an bắt giữ với tội danh “vi phạm an ninh quốc gia” khi chị thông báo cho một số người biết thái độ trịch thượng của tham tán đại sứ quán Trung cộng (“lên lớp” ký giả ta về việc soi rọi vào phẩm chất kém của một số mặt hàng nước này). Ngoài ra chị còn có các bài báo về tranh chấp lãnh thổ Việt-Trung và vai trò của Trung Quốc trong Hội nghị Geneva chia đôi đất nước. Ngày 31-8-09, nhà dân báo Sphinx đã bị công an bắt giữ và khủng bố tinh thần chỉ vì đăng hình chính mình mặc áo với hàng chữ “Hoàng Sa-Trường Sa là của VN”. Ngày 1-9-09, nhà dân báo Mẹ Nấm, tức chị Quỳnh Như, đã bị bắt sau khi đăng hình chính mình mặc áo với hàng chữ “Hoàng Sa – Trường Sa là của VN”. Đó là chưa kể trên trang blog của mình, chị còn viết nhiều lời lẽ chạm đến Trung cộng. Tháng 5-09, nhà dân báo Change We Need, tức ông Trần Huỳnh Duy Thức, đã bị bắt với tội danh “vi phạm an ninh quốc gia” khi ông đăng các tin tức về thái độ khiếp nhược của lãnh đạo Việt cộng trước các hành vi xâm lấn của Trung cộng.

Tiếp nữa là việc xử lý Viện Nghiên cứu Phát triển (ISD). Dù ngày 6-8-2008, Ban chấp hành Trung ương đảng CSVN có ra Nghị quyết số 27 về xây dựng đội ngũ trí thức thời kỳ mới với những lời lẽ trịnh trọng: «Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách để đội ngũ trí thức phát triển nhanh về số lượng và nâng lên về chất lượng, phát huy vai trò trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội… để tạo động lực thúc đẩy sự sáng tạo, cống hiến của đội ngũ trí thức». Tuy nhiên, khi thấy Viện Nghiên cứu Phát triển (IDS, của tư nhân, thành lập tháng 9-2007) ngày càng tỏ ra độc lập, đảng CSVN liền quan ngại và muốn đóng cửa nó (xem cuộc phỏng vấn ông Viện trưởng do BBC thực hiện ngày 07-07-2008). Thế nhưng, giọt nước làm tràn ly chính là việc ngày 16-06-2009, trong cuộc tọa đàm do báo VietNamNet tổ chức nhằm tìm “giải pháp đối phó với hàng Trung Quốc chất lượng thấp”, một thành viên của viện là bà Phạm Chi Lan đã dám động tới Thiên triều, khiến Tham tán Kinh tế Thương mại của Đại sứ quán Trung cộng là Hồ Tỏa Cẩm trịch thượng lên tiếng “nhắc nhở”. Thế là ngày 24-07-2009, Thủ tướng Việt cộng đã ban hành Quyết định 97 với lời lẽ «nếu có ý kiến phản biện về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, cần phải gởi ý kiến phản biện đó cho các cơ quan có thẩm quyền, chứ không được công bố công khai với danh nghĩa hoặc gắn với danh nghĩa của tổ chức khoa học công nghệ». Việc ngang nhiên bịt miệng giới trí thức nói riêng và mọi ai trong xã hội nói chung dám lên tiếng phê bình đảng CS như vậy đã khiến Viện Nghiên cứu Phát triển tuyên bố tự giải thể hôm 14-09. Việc xử lý này không thể không có bàn tay lông lá của Trung cộng đằng sau.

Gần đây là vụ xử lý thiền viện Bát Nhã tại Lâm Đồng. Tuy nhà cầm quyền CSVN và báo đài công cụ trong mấy tuần nay luôn miệng ra rả đó là tranh chấp nội bộ Phật giáo. Nhưng qua những sự kiện vốn ngày càng trở nên tệ hại mà cao điểm là việc trục xuất khỏi tu viện Bát Nhã hôm 27-09 rồi khỏi tu viện Phước Huệ 400 tăng sinh trẻ yêu đạo yêu người, yêu dân yêu nước, ai cũng thấy rằng nhà cầm quyền Việt cộng đứng đàng sau tất cả mọi vụ việc và đằng sau đó nữa là nhà cầm quyền Trung cộng. Ấy là vì năm 2007, thiền sư Nhất Hạnh, vị sáng lập Làng Mai Bát Nhã, đã tuyên bố tại Rôma nhiều lời ủng hộ cuộc tranh đấu của nhân dân Tây Tạng khi được báo chí phỏng vấn, cũng như đã đề nghị ban tổ chức đại lễ Vesak của Liên Hiệp Quốc nên mời Ðức Ðạt Lai Lạt Ma tới Việt Nam tham dự lễ này. Những ý kiến đó làm Bắc Kinh nổi giận, nên sau khi tạm để cho Hà Nội chấp nhận thầy về Việt Nam năm 2008 thuyết pháp một vòng (thưởng cho việc “cứu bồ” khỏi CPC), nay thì Trung Cộng nhờ tay sai Việt cộng đuổi trò thẳng cẳng.

Cũng phải nói đến một việc xử lý khác, kiểu “bênh phe ta”, là bỏ qua không trừng phạt website Hợp tác Kinh tế và Thương mại Việt Trung, www.vietnamchina.gov.vn (do bộ Công thương chủ quản) dù trang mạng này đã lâu năm đăng tải những thông tin bất lợi cho Việt Nam và có lợi cho Trung Quốc, cả về việc tranh chấp vùng biển. (Nó được thành lập tháng 11-2006 và bị các bloggers tố cáo tháng 5-2009). Gần đây là vụ báo điện tử của ĐCSVN, www.cpv.org.vn/cpv, ngày 8-9-2009, đăng toàn bộ một bài viết của báo Hoàn Cầu (Trung Quốc), nói đến những cuộc tập trận và huấn luyện của Trung cộng tại Hoàng Sa và Trường Sa như lãnh thổ của họ. Thế nhưng sau khi cả nước la ó, tổng biên tập là Đào Duy Quát cũng chỉ bị một hình phạt hết sức nhẹ là “khiển trách” với 30 triệu đồng moi từ tiền thuế nhân dân! Âu cũng vì nể sợ Quan thầy Đại Hán.

Thời sự nhất là việc xử án 9 nhà dân chủ các ngày 6 đến 9-10 mới rồi. Qua các bản cáo trạng và lời thẩm phán tại tòa, ngoài các lý cớ viết bài đăng mạng, phát biểu trên đài, thả truyền đơn, giăng biểu ngữ “nói xấu nhà nước, vu khống chế độ, xâm phạm an ninh quốc gia nghiêm trọng”, người ta không thể không lưu ý đến yếu tố Trung Quốc. Trước hết là về nhà thơ Trần Đức Thạch. Một trong những lý do khiến ông bị kết tội chính là chuyến đi khoảng tháng 6-2008 nhằm ủy lạo các gia đình ngư dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa có thân nhân bị hải quân Trung cộng bắn chết trên biển ngày 8-1-2005, rồi vụ việc ông đã dẫn đầu đoàn biểu tình gồm đại diện các gia đình lâm nạn nói trên ra Hà Nội để phản kháng ngọn đuốc Olympic Bắc kinh ô nhục khi nó được rước qua lãnh thổ Việt Nam ngày 29-4-2008, đồng thời để tố cáo tội ác nói trên của Trung cộng. “Tội” của nhà giáo Vũ Hùng cũng là vì đã treo biểu ngữ trên cầu vượt Nam Thăng Long-Nội Bài ngày 28-07-2008 nhằm tố cáo: việc để mất đất, biển, và đảo là có tội với Tổ tiên (ngoài việc phản đối tham nhũng, lạm phát và đòi hỏi đảng CS thực hiện đa nguyên đa đảng). “Tội” của 6 nhà dân chủ bị xử tại Hải Phòng hai ngày 8 và 9-10 cũng chỉ vì đã treo biểu ngữ trong đó có câu “Mất đất mất đảo là do chính quyền đảng CS” trên cầu vượt Lai Cách, thành phố Hải Dương ngày 7-9-2008; rồi treo biểu ngữ có câu “Bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải, hải đảo Việt Nam !” trên cầu vượt Lạch Tray, thành phố Hải Phòng ngày 16-8-2008. Rõ ràng là tố cáo cả quân cướp nước lẫn quân bán nước, y như trong nhiều bài báo bài thơ của nhà văn bị cáo Nguyễn Xuân Nghĩa.

Coi những ai phản đối hai nhà cầm quyền Việt-Trung cách ôn hòa, bất bạo động nói trên như thù địch khác giống nòi và gán ghép không ngần ngại những người ái quốc vào cái tội vu vơ là “tuyên truyền chống Nhà nước” và “làm phương hại tình hữu nghị Trung Việt” để giáng lên đầu họ những hình phạt nặng nề. Song song đó lại trương lên câu “Nhiệt liệt chào mừng kỷ niệm 60 năm Quốc khánh nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa” ở ngay thủ đô Hà Nội lẫn nhiều thành phố lớn khác hôm 01-10 mới đây, rồi ra lệnh cho báo chí và ngay cả website của đại sứ quán mình tại Bắc Kinh hết lời ca ngợi sức mạnh quân sự của Trung cộng, trong khi chính cái sức mạnh đó đang uy hiếp sự toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam. Tất cả những vụ việc trên cho thấy tập đoàn lãnh đạo Việt cộng chỉ là một lũ Việt gian đúng nghĩa. Cái bản chất “vô tổ quốc”, “phò đại đảng” chảy trong máu từ ngày chúng thấm nhiễm chủ nghĩa Cộng sản nay càng lúc càng bộc lộ rõ rệt. Loài phản dân hại nước đó có đáng nắm quyền tại Việt Nam nữa không?

BAN BIÊN TẬP

Anh Hùng lúc sa cơ

9 October, 2009 at 9:10 am | In Diễn Đàn Dân Chủ, Thời Sự | Leave a Comment

Nguyễn Thượng Long

http://viettan.org/spip.php?article9052

(Ghi chép về phiên toà xét xử nhà giáo Vũ Hùng tại Hà Nội sáng ngày 7/10/2009).

Vì những cơ may cũng là hy hữu, ngày 7/10/2009 tôi dã hoàn toàn được tự do để cùng một số đồng nghiệp của GD – ĐT Hà đông đã có mặt trước cổng Toà án nhân dân thành phố Hà nội ngày xét xử vụ án thầy giáo Vũ Hùng can tội vi phạm điều 88 Bộ luật hình sự của nước CHXHCN Việt Nam. Điều 88 là điều luật sẽ trừng phạt những ai can tội làm ra, lưu giữ và phát tán những tài liệu có nội dung tuyên truyền chống lại nhà nước CHXHCN Việt Nam với khung hình phạt là từ 3 đến 20 năm tù giam sau đó là những thời gian quản chế.

Nói là một phiên toà công khai mà tất cả chúng tôi đều phải chấp nhận là những công dân hè phố trong suốt thời gian diễn ra phiên toà. Cũng là một điều lạ là lần này không thấy sự ra quân rầm rộ của hệ thống truyền thông lề phải, không thấy không khí xung trận của các ngòi bút sát thủ của tướng quân Hữu Uớc ngày bắt giữ những người treo biểu ngữ ở Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định…. Nội vụ phiên toà chỉ thực sự vỡ oà khi chiếc xe đặc chủng chở phạm của công an chở thầy giáo Hùng hú còi lao ra đường Hai Bà Trưng từ phía cổng sau của Toà án. Chiếc xe nhanh chóng mất hút trong lòng Hà Nội. Từ xa tôi thấy cô Mai lọt vào giữa vòng vây của một đám đông các ký giả cả ta cả tây, các đồng nghiệp, học trò của thầy Hùng do thiếu 1 trong 3 loại giấy tờ nên cũng phải làm công dân hè phố như chúng tôi. Trong đám đông đó, tôi thoáng thấy bóng nhà văn Trần Khải Thanh Thủy nguyên giáo viên Hà Tây, bà Trần Thị Lệ thân mẫu của nữ luật sư nổi tiếng, “Bông Hồng thép” Lê Thị Công Nhân đang thụ lý án tương tự như tội danh hôm nay toà vừa áp đặt cho thầy Hùng. Tôi còn kịp nhận ra nhiều gương mặt dân oan nổi tiếng khác nữa. Nhường cho đám đông huyên náo đang khao khát săn tin, tôi lánh vào bóng rợp của một cây Hoa Sữa bên đường và buồn bã ngắm nhìn dòng người, dòng đời, dòng xe cộ… đang dửng dưng, ơ hờ trôi qua mắt tôi. Cùng là công dân Hà Đông, tôi chỉ thực sự tiếp cận được cô Lý Tuyết Mai ở cửa chiếc xe đến đón cô và phụ thân của thầy Vũ Hùng. Nhận ra tôi, cô Mai cho biết sau hơn một năm bị giam giữ, thầy Vũ Hùng xuất hiện trước vành móng ngựa là một hình hài trắng xanh, với chiếc đầu trọc, không mặc đồ sọc dưa và đặc biệt nhất là không hề thấy anh ấy dùng các cụm từ: Tôi đã… Tôi thấy như thế là có tội… Tôi xin được hưởng lượng khoan hồng…. Qua những trả lời vắn tắt của cô Mai, tôi biết thầy Vũ Hùng một lần nữa lại công khai nhận là người trực tiếp viết biểu ngữ (Làm ra…) và theo thầy Hùng nội dung của biểu ngữ đó không hề có tội và không hề trái với ý nguyện của nhân dân Việt Nam hiện nay. Cô Mai cũng chia sẻ với tôi sự ngạc nhiên về một nguyện vọng mà thầy Vũ Hùng đã trình bầy trước toà rằng: “Tôi có nguyện vọng sớm được đoàn tụ với người thân trong gia đình”. Tôi nghĩ, đây là kết quả của một thương lượng có lợi cho tất cả mọi người, rất nhân bản và chấp nhận được. Không ai có thể dựa vào tình tiết này để xuyên tạc và bóp méo hình ảnh thầy Vũ Hùng.

Người đời có câu: “Anh hùng gặp lúc sa cơ cũng hèn!” là để lý giải và kêu gọi sự cảm thông cho kẻ vì lỡ bước mà không còn giữ được tiết tháo của một bậc cái thế. Câu châm ngôn này không còn mấy ý nghĩa trước những gì mà thầy Vũ Hùng đã thể hiện công khai trước toà. Sau hơn một năm bị bắt giữ bởi hành động treo biểu ngữ trên thành cầu Nam Thăng Long với các nội dung:

“Tham nhũng là hút máu dân

Lạm phát và tăng giá là giết dân

Mất biển, đảo là có tội với tổ tiên

Đề nghị Đảng cộng sản Việt Nam thực thi đa nguyên, đa đảng.”

JPEG - 88.2 kb

Đúng như những gì mà một nhà dân chủ hàng đầu ở Hà Nội đã lên tiếng trước công luận: Chính ông tổng bí thư Nông đức Mạnh và 15 ông trong bộ chính trị phải gương mẫu mà cùng nhau hô to 3 nội dung trên của biểu ngữ này. Còn nội dung thứ tư, xin để cho người dân được quyền biểu đạt nguyện vọng của họ một cách ôn hoà. Việc đảng cộng sản Việt Nam có thực thi, không thực thi hay chưa thể thực thi nội dung thứ tư của biểu ngữ là tuỳ thuộc vào trình độ trưởng thành về chính trị của đảng, là tuỳ thuộc vào những điều kiện khách quan hay chủ quan của thời cuộc và không ai gọi là có tội khi người đó ao ước Việt Nam có đa nguyên, đa đảng. Việc phiên toà buổi sáng 7/10/2009 vừa qua tuyên phạt thầy Hùng 3 năm tù giam và 3 năm quản chế bởi tội danh vi phạm điều 88 là quá khiên cưỡng và thiếu tính thuyết phục. Một lần nữa người đời lại có thêm một dẫn chứng hùng hồn về sự tồn tại của những phiên toà “bỏ túi”, những hình án “bỏ túi” chỉ tìm thấy ở CHXHCN Việt Nam.

….

Sau hơn một năm thầy Hùng bị giam giữ, người ta không thể trình ra được bất cứ một đoạn âm thanh nào, một đoạn VIDEO nào làm bằng chứng cho việc thầy Hùng đã thú nhận tội và xin được hưởng lượng khoan hồng và nhà cầm quyền Việt Nam cũng không thể có thêm bất cứ một lời khai nào từ thầy Hùng để bắt giữ nốt 2 thanh niên khác trong tình trạng bịt mặt xuất hiện trong cùng một bức ảnh do một người nào đó đã chụp lúc thầy Hùng treo biểu ngữ trên thành cầu Nam Thăng Long. Bức ảnh đó đã gây xôn xao cư dân mạng suốt một thời gian dài. Bức ảnh đó cũng là một thách đố không thể chấp nhận được đối với cơ quan an ninh Việt Nam, cơ quan đó đã từng tự hào là chưa từng thất bại trước bất cứ đối thủ nào kể cả Trung ương tình báo cục Hoa Kì (CIA).

Tinh thần và khí phách của thầy giáo Vũ Hùng trước phiên toà sơ thẩm ngày 7/10/2009 xứng đáng là biểu tượng quật khởi của tuổi trẻ Việt Nam trước lịch sử. Với cộng đồng những người làm GD – ĐT chúng tôi, hành động dũng cảm của thầy giáo Vũ Hùng đã nêu một tấm gương có ý nghĩa “Rửa mặt” cho cả một giáo giới đang u mê đi vì những hối thúc mưu sinh thật gieo neo. Cũng vì cuộc kiếm ăn thê thảm đó, giáo giới Việt Nam như ngày càng dễ thích nghi với lối sống ơ hờ, câm lặng đến bạc nhược trước các thế lực nội xâm, ngoại xâm đang cấu kết với nhau xô đẩy Tổ Quốc của Con Lạc Cháu Hồng đối diện với những hiểm hoạ thật khôn lường.

Tinh thần và khí phách của thầy giáo Vũ Hùng trước phiên toà sơ thẩm ngày 7/10/2009 xứng đáng là biểu tượng quật khởi của tuổi trẻ Việt Nam trước lịch sử.

Những gì đã diễn ra suốt hơn một năm nay liên quan tới người đồng nghiệp Vũ Hùng của tôi đã đủ để tôi nói rằng:

“ANH HÙNG” gặp lúc sa cơ vẫn… ANH HÙNG”

Xin ngả mũ chào người đồng nghiệp trẻ Vũ Hùng!

Xin chúc gia đình, người thân của thầy giáo trẻ Vũ Hùng sớm tìm được sự thăng bằng trong những bình yên của một khúc ngoặt mới, thử thách mới. Tổ Quốc và Nhân dân Việt Nam chân chính mãi mãi vinh danh Nhà Giáo Vũ Hùng.

Lịch sử không quên những người con dũng cảm như nhà giáo Vũ Hùng./.

Hà Đông những ngày thu tàn tháng 10 – 2009
Nguyễn Thượng Long
Nguyên giáo viên Địa Lí GD – ĐT Hoà Bình
và Hà Tây.
Nguyên Thanh tra Giáo dục Hà Tây.
Người Đương Thời GD – ĐT 2006
Chỗ ở: Thôn Văn La – Phường Phú La – Quận
Hà Đông – Thành phố Hà Nội.
ĐT: 0433521066 & 0953298198
Email: nguyenthuonglong571@gmail.com

Next Page »

Blog at WordPress.com. | Theme: Pool by Borja Fernandez.
Entries and comments feeds.