Hội nghị Người Việt ở nước ngoài: nhạt nhẽo, không có thực chất
25 November, 2009 at 8:03 am | In Uncategorized | Leave a CommentBùi Tín

Kết quả hội nghị Người Việt ở nước ngoài: Cuộc họp nhạt nhẽo, không có thực chất
Một cuộc họp “lớn” người Việt ở nước ngoài với nhà cầm quyền trong nước vừa diễn ra từ ngày 21 đến ngày 23-11 ở Hànội. Báo trong nước sính dùng chữ nghĩa huênh hoang cho rằng đây là “Hội nghị Diên Hồng”(!) thời đổi mới.
Cuộc họp này, mục đích thật sự là gì? thái độ người Việt nước ngoài ra sao? Nay đã kết thúc, kết quả ra sao, có thành sự kiện lớn, “cú hích” đáng kể?
Trước hết tại hội nghị, chính quyền trong nước vẫn tránh né 1 vấn đề cơ bản nhất. Vì sao có hiện tượng thuyền nhân hồi 1975 – 1980, để số người Việt ở nước ngoài tăng vọt – nay lên gần 4 triệu – với một số khá lớn bà con ta bỏ xác trong đại dương? Chính quyền trong nước chưa bao giờ nhìn nhận ngay thẳng bi kịch lớn này, chưa có một lời nhận tội, nhận lỗi, nhận sai lầm hay khuyết điểm, hay chí ít là tỏ ra làm tiếc, hối hận, hay nhận phần trách nhiệm của mình đã để xảy ra sự kiện bi thảm dân tộc chứ từng có này.
Tại sao Nhật hoàng, thủ tướng Nhật biết cúi đầu xin lỗi nhân dân châu Á và thế giới về những tội ác chiến tranh, cả đến Giáo hoàng cũng xin lỗi nhân dân châu Âu và thế giới vì từng cộng tác với phát xít Hit-le trong thế chiến 2.
Còn nhà cầm quyền cộng sản Việt nam, ngược lại, còn rắp tâm thực hiện việc phá các tấm bảng, mộ chí và di tích kỷ niệm các thuyền nhân bỏ mình trên biển và trong các trại tỵ nạn ở Nam Dương, Mã lai… Thế là coi bà con là “núm ruột nối dài”, là “anh chị em ruột thịt”, là “tình đồng chủng, nghĩa đồng bào” ư? Thế là “đại đoàn kết”, là “bỏ qua quá khứ, nhìn tới tương lai” ư? Như vậy mà dẫn đến Hội Nghị Diên Hồng mới được ư?
Chỉ cần đặt vấn đề xem qua cuộc hội nghị lớn này, Bộ chính trị 14 người hiện nắm trọn quyền sinh sát của đất nước, không chia sẻ cho một ai khác, tóm trọn cả 3 quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, nắm trọn quyền chuyên chính và dụng cụ đàn áp: quân đội, công an, cảnh sát, toà án, nhà tù, – 14 người không hề được dân bầu qua một lá phiếu nào – hiện coi trọng hay khinh rẻ bà con ta ở nước ngoài? Hãy xét họ qua việc làm chứ không qua lời nói. Chỉ cần xét cho kỹ: họ coi trọng con người hay coi trọng của cải của bà con ta ở hải ngoại. Họ trọng Người hay trọng Của, như sách kinh điển của người xưa về ứng xử giữa con người với nhau hay đặt ra.
Nếu trọng Người, bộ chính trị cộng sản và bộ máy của họ ắt nhân dịp này tỏ ra trọng chất xám, lắng nghe mọi ý kiến xây dựng ngay thật, đối thoại bình đẳng với bà con ta, thẳng thắn công nhận những sai lầm, minh bạch giải tỏa những băn khoăn vướng mắc của bà con ta trên tinh thần quý trọng, tin cậy nhau trong đại gia đình Việt nam thuận hòa, êm ấm. Suốt những ngày qua không hề có biểu hiện nào như thế!
Tiết mục quan trọng nhất là nghe ông chủ tịch nước đọc diễn văn dài thòng kiểu đại ngôn, rồi nghe một thứ trưởng trưởng ban Người Việt ở nước ngoài đọc báo cáo chỉ kể lể những điều hay ho tốt đẹp, toàn một màu hồng, nhằm cuối cùng là kêu gọi đông đảo bà con ta mang thật nhiều tiền của trở về.
Xong phần chính ồn ào, các đại biểu được chia nhỏ để cùng nhau “trao đổi, đối thoại” với đại diện nhà cầm quyền, thực tế là 2 bên khen ngợi, tâng bốc nhau, theo kiểu mặc áo thụng vái nhau như trên sân khấu, mọi chuyện êm ả, dĩ hoà vi quý! Để còn ăn nhậu, cụng ly, xem nhảy múa, nghe ca hát, trao tặng phẩm…
Nếu trọng Người, họ đã không có những biểu hiện cao ngạo của người thắng trận, của kẻ cầm quyền như thế. Vẫn là thái độ kiêu căng vô lối của kẻ tài giỏi tuyệt đối(!), không cần nghe ai, ngăn cản phản biện, chỉ có một chiều dạy bảo, ban ơn, ban phát bằng khen, huân chương; những điều này, chỉ có những người thiếu nhân cách và thiếu tự trọng mới có thể cúi đầu tiếp nhận.
Do nhà cầm quyền trong nước vẫn một mực không trọng con Người, không tôn trọng Nhân quyền, không tôn trọng quyền Dân chủ Tự do của người Việt trong và ngoài nước, do đó trong hội nghị đã không hề có đối thoại bình đẳng, không hề có giải đáp thỏa đáng vô vàn thắc mắc chính đáng của các đại biểu, của bà con ta về lãnh thổ, lãnh hải, hải đảo, về bảo vệ ngư dân, về chống tham nhũng, về khai thác bô-xít, về viện IDS, về mạng Tia Sáng, về Nghị quyết 97…
Vẫn là thái độ trịch thượng một chiều, đảng cho biết đến đâu thì được biết đến đó. Biết trước điều đó, nên tuyệt đại đa số bà con gốc Việt ở nước ngoài vẫn thờ ơ, ngán ngẩm ngay từ trước cuộc họp; cũng do đó nhà cầm quyền cộng sản vừa qua chỉ huy động nổi một phần cực nhỏ chất xám, hiểu biết, kỹ thuật, kinh nghiệm và quá ít ỏi tiền của (chỉ chừng 2 tỷ đôla đầu tư của 4 triệu người (!) trong hàng mấy chục năm qua), trong khi vốn liếng của bà con ta là cực kỳ phong phú, phải nói là vô tận, là khổng lồ, như một kho vàng ròng cực quý của cả 2, 3 thế hệ người Việt hải ngoại, tất cả vẫn ở ngoài tầm huy động của nhà cầm quyền độc đoán.
Nhân dịp này, cần chỉ rõ chiếc đũa thần đang nằm trong tay Bộ chính trị Hànội để đánh thức kho báu vô tận ấy, nhưng họ đã bỏ qua thời cơ. Chỉ cần 14 con người ấy – trên đỉnh cao quyền lực tuyệt đối – tỏ ra thật lòng đặt quyền lợi nhân dân lên cao nhất, khiêm tốn nhìn nhận những lầm lẫn thiếu sót, trả lại cho xã hội quyền tự do công dân như hiến pháp quy định, để xã hội ta được hưởng mọi quyền tự do như đông đảo nhân dân các nước khác, chỉ cần như ở Thái lan, Nam Dương hay Phi luật Tân chẳng hạn, có tự do bầu ứng cử và tự do báo chí như ở các nước ấy, thì chuyện thần kỳ sẽ xảy ra ngay.
Lúc ấy, chỉ lúc ấy, bà con ta sẽ tự khắc rủ nhau mang mọi tài sản về nước để giúp quê hương, Tổ quốc, không chút e ngại đắn đo; chất xám, tri thức, tay nghề, kinh nghiệm, vốn kinh doanh hàng tỷ, hàng chục tỷ đô la, hằng vài chục tỷ đôla cũng không quá khó, sẽ đổ về nước để bù lại bao thời gian đã mất, để bù lại bao thời cơ bị bỏ lỡ, để cho Tổ quốc Việt nam thật sự “RA KHƠI” và thật sự “CẤT CÁNH”, thu hẹp nhanh những cách biệt đáng tủi hổ so với các nước láng giềng và cả các nước văn minh. Không được vậy thì “ra khơi”, “cất cánh” chỉ là ảo giác, nói cho vui, để vỗ tay, để lừa nhau, cho nhau ăn bánh vẽ…
Văn hoá Việt nam cũng là ở đó. Cuộc hội nghị này đã có riêng một diễn đàn về Văn hoá Dân tộc. Nhưng diễn đàn này đã bỏ qua một vấn đề văn hoá cấp bách, quan trọng là làm sao đưa chế độ thống trị của duy nhất một đảng chuyển lên một nấc văn minh cao hơn là chế độ dân chủ của toàn dân, với tiêu biểu là lá phiếu tự do của người công dân được suy nghĩ tự do, lập hội tự do theo hiến pháp. Bởi vì không có gì vô văn hoá, phản văn hóa hơn là người Việt nam với nhau lại cậy độc quyền về quyền lực để tịch thu quyền tự do của nhau, của bà con ruột thịt của mình, thống trị anh chị em cùng chung máu thịt chỉ vì lợi ích phe nhóm, đảng phái riêng, với những cuộc bầu cử tiền chế “đảng chọn, dân giả vờ bàu” nhàm chán, đáng hổ thẹn mà vẫn cứ làm để thành trò cười!
Cuối cùng, do Người là vốn quý nhất, Người làm ra của, nên nếu khinh Người mà trọng của thì cuối cùng sẽ mất sạch cả Người lẫn của, để trắng tay và đổ vỡ, như chế độ xô viết ở Liên xô cũ, như “chủ nghĩa xã hội hiện thực” bất nhân phi nghĩa chà đạp quyền tự do công dân, từng vang bóng một thời ở Đông Âu và sụp đổ 20 năm trước.
Qua cuộc họp nhạt nhẽo, hình thức thiếu thực chất vừa qua, có thể rút ra kết luận là nếu chế độ độc quyền đảng trị vẫn chứng nào tất nấy, khinh thị con người, khinh thị sự thật và lẽ phải, khinh thị nhân dân, chỉ mong huy động tiền bạc của bà con gốc Việt, thì cuộc họp người Việt ở nước ngòai, dù có hơn 1 ngàn hay mấy ngàn người dự, chỉ là phung phí công sức, thời gian và tiền của của đất nước, kết quả ít ỏi, nghèo nàn, không tạo nên một “cú hích” cần thiết nào cho sự nghiệp phát triển đất nước, là lẽ đương nhiên.
Danh nghĩa “Hội nghị Diên Hồng” càng thêm nhạt nhẽo, vô duyên và mỉa mai vậy!
Bùi Tín
Paris 24-11-2009
Ðảng chập chờn, chế độ chập chờn
24 November, 2009 at 9:06 am | In Bình luận: Ngô Nhân Dụng | Leave a CommentNgô Nhân Dụng
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=104464&z=7
Ðêm Thứ Ba và sáng Thứ Tư, nhật báo Người Việt loan tin về mạng Facebook bị chặn tại Việt Nam, ngay lập tức có những vị công an văn hóa viết thư chế nhạo tờ báo này loan tin vịt, và báo cho biết rằng Bộ Thông Tin, Văn Hóa trong chính phủ Hà Nội đã xác nhận rằng họ không hề ra lệnh cấm Facebook bao giờ.
Nhưng tới sáng ngày Thứ Sáu, các đài phát thanh quốc tế nói tiếng Việt lại đua nhau loan tin Facebook ở Việt Nam bị chặn, phần lớn các chi tiết trong các bản tin chỉ xác nhận lại những điều đã viết trên Người Việt hôm trước. Vậy thì Facebook có bị chặn hay không? Có, và không. Một người ở Việt Nam được đài ngoại quốc phỏng vấn đã cho biết nó “chập chờn,” có lúc vào được, có lúc không. Hai chữ “chập chờn” rất gợi hình, cũng là câu trả lời của một người từ Hà Nội trả lời nhật báo Người Việt trong số báo in ngày Thứ Tư. Chập chờn, hai tiếng này thường được dùng để tả những bóng ma. Những người yếu bóng vía nghe có thể sợ không dám mó tới Facebook nữa! Chắc nhiều vị độc giả không biết cái tên gọi Facebook này là cái gì. Nó là một thứ nhu liệu được thảo ra để những người dùng có thể liên lạc với nhau qua mạng lưới. Mỗi người mở một “account” trong Facebook rồi đem hình ảnh, tin tức của mình bày lên, dùng cái cửa đó để liên lạc với bạn bè, bà con. Chữ “account” này có thể gọi là gì, xin bàn sau, nhưng có một người trả lời đài phát thanh gọi nó là “tài khoản” giống như trương mục trong ngân hàng thì chắc chắn không ổn, vì chẳng có đồng tiền nào trong đó hết! Ký giả này cũng mới mở một “account” trong Facebook gần đây để tiện việc trao đổi tin tức với con, cháu, họ hàng và bè bạn, nhưng rất ít dùng chỉ vì lười chứ không phải vì bị ai cấm. Không lẽ con cháu đã biết dùng Facebook mà ông nội, ông ngoại lại chịu thua đóng vai một người lạc hậu hay sao? Có hơn một triệu người ở Việt Nam đang sử dụng Facebook, gần một triệu là những người trên 18 tuổi, cho thấy đồng bào mình cũng không chịu lạc hậu.
Trừ khi “đảng lãnh đạo” muốn bà con cứ tiếp tục chập chờn trong lạc hậu, để tiện việc cai trị!
Nhưng bên trong cái đảng lãnh đạo đó, cũng không biết ông nào bà nào ban quyết định chặn không cho đồng bào vô Facebook. Cho nên nó càng chập chờn hơn nữa!Khi một đài ngoại quốc hỏi, thì ông bộ trưởng Thông Tin quả quyết ông không hề ra lệnh chặn Facebook. Chắc ông ta không ra lệnh thật. Có khi ông cũng chẳng hề biết có ai ra lệnh hay không! Nhưng trên bản tin báo Người Việt, được các đài ngoại quốc xác nhận hai ngày sau, thì có lệnh cấm bảo những người làm Internet thật. Và lệnh cấm này được ban ra từ guồng máy công an! Báo Người Việt đã in cả hình trang công văn, mang số đàng hoàng, gửi cho tám công ty cung cấp dịch vụ Internet như VIETTEL, VDC, cho tới VTC, vân vân, ra lệnh họ ngăn chặn “triệt để” Facebook để “bảo đảm yêu cầu công tác an ninh và đấu tranh với hoạt động tuyên truyền chống phá Ðảng và nhà nước ta.” Bản văn đó lại ẩn danh, không đề tên cơ quan ra lệnh. Ðó cũng là một hành tung đặc biệt kiểu công an (hành tung, nói theo thời thượng còn gọi là “động thái,” một từ nghe mơ hồ hơn, tức là cũng chập chờn hơn)! Có nhà cung cấp dịch vụ Internet ở Việt Nam như FPT nói họ không nhận được lệnh nào của công an cả. Nhưng nhiều công ty khác thì xác nhận được công an ra lệnh ngăn chặn Facebook. Bàn dân thiên hạ, tức là đám chúng sinh đang dùng Facebook thì thấy có khi vào được, có khi không. Khi có, khi không, khi ẩn, khi hiện cho nên mới gọi là nó chập chờn. Hai tiếng chập chờn vẫn quen dùng để tả ma gọi quỷ, bây giờ dùng rất tiện để tả cách hành động (nay có khi gọi là động thái) của giới công an ở nước ta, chứng tỏ những loại này có nhiều điểm tương đồng.
Nhưng phải nói, cả chế độ đang cai trị nước Việt Nam nó cũng là một chế độ chập chờn, do một Ðảng Chập Chờn lãnh đạo. Hãy nói đến cái tên của đảng này, đã thay đổi mấy lần tùy theo cơ hội. Ðã có lúc Ðảng tuyên bố tự giải tán nhưng vẫn sống như ma trong bóng tối, đợi cơ hội tới lại hiện hình lên như làm trò phù thủy.
Khi thành lập đảng, Hồ Chí Minh đặt tên là Ðảng Cộng Sản Việt Nam nhưng ngay sau đó Stalin bảo phải đổi tên là Ðảng Cộng Sản Ðông Dương. Hồ Chí Minh bị Stalin nghi có khuynh hướng “quốc gia” chưa thấm mùi “vô sản quốc tế.” Cho nên suốt cuộc đời sau đó Hồ Chí Minh phải luôn luôn tìm cách chứng tỏ mình là “cộng sản đệ tam thứ thiệt” để được Stalin tin dùng nhưng chẳng bao giờ được tin. Khi Hồ theo Mao Trạch Ðông sang Mát Cơ Va yết kiến ông trùm đỏ, đã cắt một bức hình Stalin trên tờ báo tuyên truyền, xin ông Sít ký tên làm kỷ niệm. Ngày hôm sau, theo lời Krutchev kể trong cuốn hồi ký của ông, mật vụ Nga vô đã phòng Hồ Chí Minh lục va li lấy lại bức hình đó. Ðúng là thầy cũng không tin học trò! Các lãnh tụ cộng sản đều biết không thể nào tin nhau được, vì họ đều lấy thuật trí trá làm phương châm sống và hành động.
Theo phương châm sống đó, năm 1946 Hồ Chí Minh tuyên bố giải tán Ðảng Cộng Sản Ðông Dương, để lấy lòng các ông tướng Tầu Quốc Dân Ðảng đang nắm quyền sinh sát ở Hà Nội. Năm 1951 lại tái lập đảng, đổi tên là Lao Ðộng, đưa bản điều lệ cho Mao Trạch Ðông phê duyệt. Cho tới sau khi chiếm được miền Nam Việt Nam, cái đảng đó mới xưng tên thật là Ðảng Cộng Sản! Một cái tên không thôi đã thấy đảng lãnh đạo chập chờn như ma trơi rồi!
Nhưng tính chất chập chờn hiện rõ nhất không phải trong cái tên mà trong hành động. Một đặc điểm của phong cách lãnh đạo của đảng Cộng Sản là trốn tránh trách nhiệm. Lúc nào cũng nhân danh “Ðảng” mà ra lệnh, nhưng hỏi “Ðảng là ai” thì anh nọ chỉ anh khai, không anh nào nhận. Bởi vì không ai dám tin nhau, cho nên ngay cả khi đưa ra những chính sách làm khổ cả nước, các anh cũng tìm cách “giấu tên” để mình khỏi chịu trách nhiệm. Bây giờ những người dùng Internet ở Việt Nam có thắc mắc hỏi “Ai ra lệnh các công ty tin học chặn Facebook?” Thì chắc không thể nào điều tra ra thủ phạm. Hành tung nó cũng chập chờn như bao nhiêu quyết định khác trước đây, như khi hỏi, “Ai bày ra trò cải cách ruộng đất? Ai đấu tố các nhà trí thức Nhân Văn, Giai Phẩm?” Hồ Chí Minh là người thôi thúc cải cách ruộng đất, nhưng đổ tội cho Trường Chinh để trừ bỏ một đàn em có khả năng hơn và nhiều tay chân hơn mình! Tố Hữu đã chịu tiếng là người đứng đầu vụ đấu Nhân Văn Giai Phẩm, nhưng nay mới biết Trường Chinh mới là tướng soái chỉ huy! Ðồng đổ cho Cốt, Cốt lại đổ cho Ðồng, lịch sử đảng Cộng Sản là một cái lịch sử chập chờn như vậy.
Trong hồi ký của Ðoàn Duy Thành, một cựu phó thủ tướng và từng được Lê Duẩn tính “tổ chức” cho lên làm tổng bí thư, ông kể một chuyện về cái “Chỉ thị Z30” cho thấy lề thói quyết định việc nước của đảng Cộng Sản. Năm 1983, Ðoàn Duy Thành còn làm bí thư thành phố Hải Phòng, nhận được Chỉ thị Z30 “rất mật” ra lệnh “tịch thu nhà từ 2 tầng trở lên, bất kể to nhỏ, trị giá bao nhiêu. Chỉ thị Z30 chỉ được phổ biến bằng miệng. Hải Phòng “được 2 đồng chí Bộ Chính Trị nhắc nhở rằng Hà Nội làm trước, Hải Phòng theo Hà Nội mà làm.” Ðoàn Duy Thành nhận được lệnh miệng thì cũng do dự, lên Hà Nội xem người ta tịch thu nhà. Ông viết, “Tôi thấy chẳng khác gì cải cách ruộng đất. Cải cách ruộng đất còn đấu tố rồi mới tịch thu, nhưng Z30 chỉ đọc lệnh là tịch thu, bốc cả gia đình gia chủ lên xe đi ở chỗ khác. Tôi đi 3 lần được xem 3 nhà.” Ông còn kể, “Tôi thấy tận mắt một gia đình bị tịch thu, cả nhà đội khăn tang bị đẩy lên xe, khóc sướt mướt.” Ðoàn Duy Thành đã tới tận văn phòng Trung Ương Ðảng và văn phòng chính phủ “để xin xem chỉ thị Z30. Hóa ra chẳng ai biết cả và tỏ vẻ giữ bí mật, … sợ sệt, e dè… không bảo làm, cũng không bảo không (làm).” Có như vậy mới là tác phong Ðảng Chập Chờn! Tuy vậy, một bữa Ðỗ Mười về thăm Hải Phòng, được đưa đi tham quan, qua một ngôi nhà hai tầng dựng bên đường, bèn hỏi nhà của ai, và nói sõng, “Nếu tôi là bí thư, chủ tịch thành phố, tôi sẽ tịch thu cái nhà này…!” Ðó là ngôi nhà của một tài xế lái xe trong Ðoàn 12!
Cuối cùng thì cái Chỉ thị Z30 đó nó chập chờn từ đâu mà sinh ra? Trong cuộc họp Trung Ương Ðảng vào Tháng Sáu năm 83, do Phạm Hùng, bộ trưởng Công An điều khiển, Ðoàn Duy Thành nói “một mạch 2 giờ liền” than phiền về những tai hại của Chỉ thị Z30. Anh Ba Lê Duẩn và anh Hai Phạm Hùng tỏ vẻ suy nghĩ nhưng không nói gì về cái chỉ thị đó cả, chỉ hỏi ý kiến mọi người thôi. Lê Duẩn lại lên lớp giảng một bài về “đạo lý của Ðảng ta, nguyện vọng của nhân dân.” Sau đó không còn ai nói tới nữa. Cuối cùng, Ðoàn Duy Thành vẫn tự hỏi trong cuốn hồi ký viết xong năm 2004, “Không hiểu cái Chỉ thị Z30 ấy ở đâu mà ra?” Ông kể trong nhật báo Nhân Dân một ngày vào Tháng Sáu năm 1983 có đăng 6 bài phê bình các địa phương không tịch thu nhà, trong đó có 5 bài phê bình Hải Phòng, một bài phê bình Hà Bắc. Hỏi ông Hồng Hà, tổng biên tập báo đó, ông ấy cũng chối không biết gì, chỉ thấy “tổ ý kiến bạn đọc” đăng thì đăng! Những lời tường thuật của Ðoàn Duy Thành chỉ cốt để chứng tỏ ông ta là người thực tế và khôn ngoan nhất, hơn hẳn cái anh Ðỗ Mười, người đã tìm cách ám hại ông ta để giành lấy chức thủ tướng rồi lên chức tổng bí thư. Nhưng chúng ta nghe chuyện thì biết cách quyết định việc trị dân của các ông cộng sản này như thế nào. Nói giản dị, nó là chập chờn, cho nên vô trách nhiệm.
Nếu cái Chỉ thị Z30 này được thi hành đầy đủ thì cả nước bị họa, nhất là ở miền Nam. Ðoàn Duy Thành sau đó phê bình những quyết định “khi sai sẽ gây ra bao oán thù, nó sẽ tích tụ chồng chất dần lên, thành những hận thù sâu xa đến tận đời con đời cháu…” Năm 1983 miền Bắc nước ta bị nạn đói, tỉnh Thanh Hóa có người chết đói, dân đói kéo ra Hà Nội tìm ăn đầy cả nhà ga và đường phố. Nhưng cái “Ðảng lãnh đạo” đó ban ra một lệnh làm người dân khóc sướt mướt như thế mà cuối cùng không ai đứng ra chịu trách nhiệm, dù chỉ là thú nhận để trong nội bộ biết với nhau thôi!
Từ 1983 đến nay lề lối quyết định việc cai trị nước Việt Nam của đảng Cộng Sản có vẻ vẫn không thay đổi. Chỉ có một tiến bộ, là năm nay lệnh cấm được viết trên giấy, vì dân Việt Nam bây giờ không còn sợ hãi, không còn dại như xưa nữa. Nhưng cung cách lãnh đạo chập chờn của Ðảng Cộng Sản vẫn còn nguyên, vì tờ giấy ra lệnh vẫn không thấy ai ký tên, không có danh hiệu của cơ quan nào cả!
Bà Debbie Frost, giám đốc thông tin quốc tế của công ty Facebook nói vói nhật báo Người Việt rằng “…thật là đáng xấu hổ nếu người dân ở Việt Nam hoặc bất cứ nước nào không có quyền vào trang Facebook…” Ðể bớt xấu hổ, ngày hôm nay, trong lúc đang viết bài này, tôi cũng bỏ thời giờ vào trang Facebook của mình, gửi ngay một thông điệp cho hai con và một đứa cháu ở tận Wien, Áo Quốc.
Nhưng vẫn tự hỏi ai là người quyết định ra lệnh ngăn chặn không cho người Việt trong nước được vào Facebook? Lại phải chờ mười năm nữa họa chăng mới có một người viết hồi ký kể lại những chuyện lạ lùng, ở một “cõi” mà người trần mắt thịt không thể nào thấy được. Ðó là thế giới của ma của quỷ. Cho nên nó mới chập chờn như vậy
Không thể xuyên tạc yêu nước thành “Diễn biến hòa bình”
20 November, 2009 at 10:14 am | In Uncategorized | Leave a CommentThương Phong
Trung Quốc ngang ngược quyết định thành lập đơn vị hành chính ở quần đảo Hoàng Sa. Phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao Việt Nam một lần nữa lại lên tiếng phản đối yếu ớt bằng một lời lẽ hết sức ngoại giao rằng như thế là “vi phạm chủ quyền Việt Nam”.
Phía Việt Nam cho rằng hành động này của Trung Quốc là “không có lợi cho quá trình đàm phán, tìm kiếm biện pháp cơ bản lâu dài cho vấn đề trên biển giứa hai nước”.
Việt Nam khẳng định quần đảo Hoàng Sa, nơi mà Trung Quốc đang chiếm giữ và vừa tuyên bố thành lập đơn vị hành chính uỷ ban thôn đảo Vĩnh Hưng và Triệu Thuật là thuộc chủ quyền Việt Nam. Việt Nam mong muốn được giải quyết hoà bình theo luật biển quốc tế.
Quyết định của Trung Quốc ban hành ngay khi tổng thống Mỹ vừa kết thúc chuyến thăm và làm việc tốt đẹp với họ.
Các cá nhân quan chức cao cấp nhất trong lãnh đạo Việt Nam trước sau như một, chưa cá nhân nào bày tỏ rõ chính kiến về chủ quyền, lãnh thổ đất nước trước những sự xâm phạm của Trung Quốc. Trái lại từ tổng bí thư đến thủ tướng và các uỷ viên Bộ Chính Trị đều bày tỏ quan hệ ngoại giao giữa hai nước là “hoàn toàn tốt đẹp, bền vững muôn đời”.
Bởi vậy hành vi xâm chiếm, bắn giết và chiếm giữ ngang ngược của chính quyền Trung Quốc với lãnh thổ Việt Nam được gọi nhẹ nhàng là “vi phạm chủ quyền’’. Một hành đồng xâm lược ngang nhiên đã bị nhẹ nhàng hoá, đơn giản như việc tranh chấp nhỏ giữa hai địa phương của hai nước.
Sở dĩ nhà cầm quyền Việt Nam không muốn tỏ ra mạnh mẽ trước hành động của Trung Quốc là do nhiều yếu tố đưa đến. Những yếu tố này bị chi phối vì những quyền lợi của chính thể Việt Nam, do đó chúng được diễn giải với nhân dân bằng cụm từ “nhạy cảm, tế nhị’’.
Trong 4000 năm lịch sử của đất nước và dân tộc Việt Nam, đây là lần đầu tiên và duy nhất một chính thể cầm quyền coi việc ngoại bang xâm chiếm chủ quyền đất nước là việc “tế nhị, nhạy cảm’’?. Những quyền lợi ở đây cụ thể là ghế ngồi trong hàng ngũ lãnh đạo cao cấp của Đảng Công Sản Việt Nam, những chiếc ghế này được củng cố bởi sự tác động của Trung Quốc. Đó là điều mà tại sao chưa có uỷ viên Bộ Chính Trị Đảng CSVN nào dám khảng khái lên tiếng. Mà sự việc chỉ đẩy cho phát ngôn viên Bộ ngoại giao phát lời như một cuộn băng ghi sẵn, một cái máy nói không hơn.
Một trong những nguyên nhân nữa là tâm lý của người dân Việt Nam, ít nhiều sự tự trọng về chủ quyền đất nước còn rất thiêng liêng và cao cả. Đặc tính này là do lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước đã hình thành và còn tồn tại đến ngày nay.
Nhưng tâm lý cao thượng này của những người Việt Nam yêu nước lại được những nhà cai trị Trung Quốc bóp méo để nhắc nhở, răn đe nhà cầm quyền Việt Nam đó là mầm mống của “diễn biến hoà bình’’, có nguy cơ xoá sổ cả chính thể cầm quyền là Đảng Cộng Sản Việt Nam. Trung Quốc còn vạch ra những ý kiến phản đối hành động bạo ngược của Trung Quốc là âm mưu nhằm làm tổn hại quan hệ hai nước, gây chia rẽ và gây cô lập nhằm làm suy yếu sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam.
Chính thể cầm quyền tại Việt Nam đã cụ thể hoá lời chỉ bảo của Trung Quốc bằng những hành động trấn áp, bắt bớ những người bày tỏ ý kiến trong vấn đề chủ quyền này bằng những tội danh như “trốn thuế’’ với blogger Điếu Cày, tội “gây rối trật tự công cộng” với những thanh niên, sinh viên tham gia biểu tình phản đối. Tội “tuyên truyền chống phá nhà nước’’ với nhóm 6 người của nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa vừa bị kết án tù mới đây. Tội “xâm hại lợi ích quốc gia’’ của 3 blogger trẻ vừa qua. Trước đó nữa là bản án dành cho luật sư trẻ Lê Chí Quang, người đã lên tiếng về hiểm hoạ xâm lược của Trung Quốc từ rất lâu với bài “Hãy cảnh giác với Bắc Triều”. Loại bỏ trang web của nhà văn Đào Hiếu, sa thải blogger, phóng viên Huy Đức……
Phía Trung Quốc đã chơi một ván bài cực kỳ thâm hiểm đẩy những nhà lãnh đạo Việt Nam vào thế khó khăn. Nhượng bộ chủ quyền đất nước hay là phải đối phó với con “ngáo ộp’’ nguy hiểm mà Trung Quốc đã vẽ ra cho lãnh đạo Việt Nam thấy. Con ngáo ộp có tên “diễn biến hoà bình’’ được Trung Quốc chỉ bảo rằng do thế lực phương Tây, đặc biệt là Mỹ đứng đằng sau chỉ đạo.
Điều khôi hài là trong khi nhà cầm quyền Việt Nam đang nỗ lực đối phó với những ý kiến mạnh mẽ khẳng định chủ quyền đất nước của người dân, trước hành vì xâm chiếm của người hữu hảo láng giềng bị gọi là nguy cơ “diễn biến hoà bình do Mỹ giật dây’’ thì Trung Quốc ngồi sẵn ở nhà đợi Mỹ đến đàm phán, mặc cả về những quyền lực phân chia trên thế giới ở một số khu vực.
Trung Quốc đã từng đẩy Việt Nam lên tuyến đầu của phe CNXH thử lửa với đế quốc Mỹ trong những năm 60, 70 của thập kỷ trước. Để rồi họ âm thầm tiếp ngoại trưởng Mỹ bắt đầu một mối quan hệ có lợi cho họ, để Trung Quốc âm thầm phát triển trong khi Việt Nam chỉ được cái danh hão tiền đồn của CNXH đánh bại đế quốc.
Có lẽ Việt Nam lại lần nữa là tiền đồn trong việc chống và phá tan âm mưu “diễn biến hoà bình của đế quốc Mỹ’’. Và khi nhìn lại, người “anh em” Trung Quốc lúc nào giờ đã thực sự thành một đế quốc tham tàn mang đúng bản chất như cái tên “chủ nghĩa đế quốc mang màu sắc đặc sắc Trung Quốc’’.
Giờ đây người Trung Quốc không phải lo lắng trước sự phản ứng của Việt Nam trước sự xâm chiếm của mình. Người Trung Quốc chỉ ung dung dùng kế sách của Tôn Tử là hàng ngày chỉ cho lãnh đạo Việt Nam thấy những nguy cơ của diễn biến hoà bình đang tiềm ẩn bên trong như đất đai của nông dân, tôn giáo, tài nguyên khai thác, những người bất đồng chính kiến, ý kiến của các nhà trí thức, cựu tướng lĩnh quân đội, sinh viên, thanh niên… để những nhà lãnh đạo Việt Nam có mối bận tâm khác lớn hơn là chủ quyền lãnh hải.
Bởi thế, với lực lượng nhân lực và tài lực hùng hậu, nhà cầm quyền Việt Nam vẫn tuyên truyền thành công khiến cho nhiều người dân ngộ nhận những việc làm của một số người Việt Nam yêu nước chân chính là “diễn biến hoà bình’’ là chủ ý của các thế lực thù địch. Và vẫn bị phủ dụ nhẹ nhàng hành động xâm lược của Trung Quốc chỉ là “vi phạm chủ quyền’’ ở mức độ nhỏ không ảnh hưởng đến quan hệ tốt đẹp giữa hai nước “anh em”.
Những toan tính quy chụp cho những người dân yêu nước, chỉ vì họ mạnh mẽ đòi hỏi việc xác nhận chủ quyền đất nước của nhà cầm quyền Việt Nam là cực kỳ dối trá và trắng trợn, được xây dựng một cách bài bản có hệ thống. Được dựng lên bởi một bộ máy và những lãnh đạo có nghề được đào tạo và rèn luyện kỹ. Khai thác nhiều yếu tố tâm lý của đám đông quần chúng nhân dân từ lâu đã bị chi phối và lệ thuộc vào các phương tiện truyền thông nhà nước.
Đặc biệt những tuyên truyền viên của ban tuyên huấn đi tận cùng các ngõ ngách, chị bộ cơ sở địa phương để thuyết giảng những nội dung được hoạch định kỹ càng với chiêu bài “nói chuyện với cơ sở’’. Cách nói chuyện nửa bí mật, nửa công khai như là chia sẻ với cán bộ cấp cơ sở đạt ít nhiều hiệu quả. Người ta dễ dàng thấy những cán bộ hưu trí đi họp chi bộ về, nét mặt quan trọng, khi hỏi đến đầy vẻ hiểu biết nói về quan hệ Việt- Trung, lãnh thổ bằng những luận điệu như “việc chia đất với Trung Quốc rất phức tạp, vì đó là nước lớn, mình phải khéo léo để giành được cái mình muốn. Xu thế bây giờ là đối thoại chứ không đối đầu. Những hành động nóng vội, kêu gào, đòi hỏi là do bọn xấu muốn lợi dụng để khích động bạo loạn, hoặc là do một số người thiếu hiểu biết, thiếu thông tin dẫn đến như vậy…’’
Rõ ràng một chiến dịch nhằm bôi nhọ và xuyên tạc những tấm lòng yêu nước đang được phát động một cách tinh vi, sâu rộng trong nhân dân dưới nhiều hình thức khác nhau. Nhưng chung quy vẫn là mục đích dập tắt những ý kiến khác chiều, để tập trung tư tưởng của nhân dân một cách tuyệt đối dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản, thâu tóm được ý chí và tư tưởng con người là yếu tố hàng đầu để bảo đảm sự tồn vong vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng Sản, tính quan trọng sống còn của yếu tố này đã được chính thể Việt Nam nỗ lực hết mình dùng mọi thủ đoạn từ bạo lực đến tuyên truyền.
Tinh thần yêu nước là một tinh thần cao thượng, không có cái “đuôi’’ do sự quy chụp, gán ghép nào có thể làm sai lệch. Những mưu toan vì lợi ích cục bộ, lợi ích phe nhóm để vu khống, áp đặt trước sau cũng bị phơi bày bộ mặt giả dối trước lịch sử và dân tộc.
Cho dẫu bị những khó khăn, những cáo buộc vu khống, cho dẫu những người dân yêu nước chân chính đã phải sa vào nhà tù do chính thể cầm quyền giăng bẫy như Nguyễn Hoàng Hải tức blogger Điếu Cày… Nhưng với tinh thần yêu nước bất diệt tồn tại hàng nghìn năm, dân tộc Việt Nam không thể nào để cho những luận điệu tuyên truyền lừa bịp dập tắt nhuệ khí hào hùng của ông cha để lại, nhuệ khí của Cáo Bình Ngô, nhuệ khí của Đông A, Bạch Đằng, Vạn Kiếp….
Đòi hỏi chủ quyền đất nước là nghĩa vụ và trách nhiệm của mỗi con dân Việt Nam. Tư tưởng ấy là bất diệt, không kẻ nào dù tinh vi, thâm độc và quyền lực đến đâu có thể xuyên tạc sang ý nghĩa khác được. Sự lừa dối như cái kim trong bao, không sớm thì chiều ắt phải lòi ra. Bằng chứng cho thấy càng ngày càng nhiều những tiếng nói đã cất lên để khẳng định chủ quyền đất nước.
Điều ấy nói lên rằng: Không thể nào xuyên tạc tinh thần yêu nước thành những cụm từ xảo trá như “diễn biến hoà bình” hoặc “âm mưu bạo loạn”...
Việc nhà cầm quyền Việt Nam càng hăng say đàn áp những tấm lòng yêu nước, càng quy chụp và trấn áp những tiếng nói yêu nước thương nòi càng chứng minh rõ hơn điều mà lâu nay người dân đã ngờ ngợ: “Chính quyền Việt Nam coi nhẹ sự mất nước, chỉ sợ lo mất Đảng”. Vì Đảng mới đưa lại lợi ích cho những cá nhân chóp bu này bất chấp vận mệnh của dân tộc, của Tổ Quốc.
Mọi âm mưu đang nỗ lực để lừa bịp quần chúng nhân dân, lừa bịp cả dân tộc đều sẽ thất bại bởi chúng xuất phát từ động cơ quyền lợi cá nhân, quyền lợi phe nhóm. Những động cơ đê hèn như vậy sớm muộn cũng bị đè bẹp bởi chính nghĩa dân tộc, đất nước. Lịch sử đã chứng minh và ngày nay sẽ tiếp tục minh chứng cho quy luật muôn đời này.
Ngày 18/11/2009
Thương Phong
Nguồn: Nữ Vương Công Lý
Hội nghị Người Việt, một trò lường gạt trơ trẽn! – Xã luận bán nguyệt san Tự do Ngôn luận số 87
19 November, 2009 at 9:17 am | In bán nguyệt san Tự do Ngôn luận | Leave a CommentHội nghị Người Việt, một trò lường gạt trơ trẽn!
Xã luận bán nguyệt san Tự do Ngôn luận số 87 (15-11-2009)
Cách đây đúng 20 năm, ngày 09-11-1989, Bức tường Berlin ở Đông Đức bị nhân dân phá sập. Biến cố này đã phơi bày tất cả bộ mặt của chế độ cộng sản tại Đông Đức nói riêng và tại các nước Cộng sản toàn cầu nói chung. Đó là một trò lường gạt thô bỉ và vĩ đại, che giấu một bản chất gian dối và bạo tàn, che đậy một xã hội đầy huyết lệ và tội ác, đúng như câu định nghĩa của người Pháp: “Communisme : sang, fer, misère” (Chủ nghĩa CS là sắt, máu, khốn cùng) và như lời phê phán của Đức Giáo hoàng Gioan-Phaolô II (người đã hạ đo ván CS): “Communisme : Mensonge, rien que mensonge!” (Cộng sản chỉ thuần là dối trá, lường gạt). Cuộc kỷ niệm hoành tráng tại thành phố Berlin hôm 09-11-2009 mới rồi, với sự tham dự của nhiều chính khách lỗi lạc từ thế giới dân chủ và khoảng 100.000 người, đã một lần nữa phơi bày dung nhan ghê tởm của chủ nghĩa, chế độ và chính đảng Cộng sản.
Thế nhưng, bên trời châu Á, CSVN vẫn tiếp tục mù quáng và trâng tráo chơi trò lường gạt, đặc biệt đối với đồng bào hải ngoại. Mới đây thôi, từ 18-07 đến 05-08-2009, một sinh hoạt gọi là “Trại hè Việt Nam 2009 dành cho thanh thiếu niên kiều bào với chủ đề “Ngọn đuốc dẫn đường” đã diễn ra với nhiều hoạt động sôi nổi trên 11 tỉnh, thành phố từ Bắc vào Nam”. Điểm nhấn của Trại hè lần này xoay quanh nội dung gọi là “theo dấu chân Chủ tịch Hồ Chí Minh, Anh hùng giải phóng Dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới”; đang lúc thật ra đương sự chỉ là một tên gian hùng, tròng ách độc tài lên cả đất nước, đẩy Tổ quốc vào thảm họa đủ mọi mặt, và không hề được UNESCO xưng tụng là danh nhân văn hóa thế giới.
Vài hôm nữa đây, từ 21 đến 23-11-2009, tại Hà Nội sẽ diễn ra cái gọi là “Hội nghị người VN ở nước ngoài toàn thế giới lần thứ nhất”, do bộ Ngoại giao CS triệu tập, với chủ đề “Vì một cộng đồng đoàn kết vững mạnh, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng đất nước”, có sự tham dự của khoảng 1.500 thành viên gồm hàng lãnh đạo cấp cao của đảng, của bộ máy cai trị CS ở trung ương lẫn địa phương, cùng khoảng 850-900 “đại biểu kiều bào” từ 100 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới (theo thông tin mới nhất). Hội nghị sẽ thảo luận 4 chuyên đề: “Xây dựng cộng đồng người VN ở nước ngoài đoàn kết vững mạnh, thành đạt và hướng về đất nước”, “Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá và truyền thống dân tộc trong cộng đồng người VN ở nước ngoài”, “Chuyên gia, trí thức kiều bào góp phần vào sự nghiệp xây dựng đất nước”, và “Doanh nhân kiều bào góp phần vào sự nghiệp xây dựng đất nước”.
Điểm dối trá lường gạt thứ nhất, đó là danh xưng tiếm đoạt: “đại biểu kiều bào”. Có ai bầu cho những người Việt hải ngoại về nước lần này đâu mà gọi họ là “Ðại biểu”! Ðiều tồi tệ hơn nữa là trong số 850 kẻ mang hiệu danh cao quý này, có đến một nửa là cán bộ nhà nước – tức những nhân viên làm việc cho các tòa đại sứ Hà Nội khắp năm châu – nên số “Việt kiều” thực sự chỉ vào khoảng vài trăm mạng, và hẳn là những kẻ thân với Cộng sản. Cách sắp xếp thành viên tham dự như thế cho thấy nhà cầm quyền VN muốn bảo đảm là sẽ không có sự kiện nào (từ phát biểu, hành động đến quyết định) sẽ diễn ra ngoài ý muốn của họ.
Điểm dối trá lường gạt thứ hai, đó là nội dung 4 chuyên đề thảo luận. Bốn chuyên đề này thật ra đã được trình bày trong Nghị quyết 36 của trung ương đảng CS (ra ngày 26-03-2004). Qua hơn 5 năm thực hiện, bốn điều này đã chẳng đạt được thành quả nào, vì hầu hết đồng bào hải ngoại đều biết tỏng Nghị quyết ấy chỉ là một công cụ nhằm khai thác, khống chế, chia rẽ và lũng đoạn cộng đồng của họ (y như đàn anh Trung cộng đối với Hoa kiều trên thế giới). Thành quả duy nhất của nó là lôi kéo được một số thành phần cần sự yểm trợ về tài chánh của CS để làm ăn ngoài nước hoặc trong nước.
Điểm qua từng mục, trước hết người ta thấy việc “xây dựng cộng đồng người VN ở nước ngoài đoàn kết vững mạnh, thành đạt và hướng về đất nước” là một chuyện bằng thừa. Dù có một số bất đồng về phương pháp và đường lối, đại đa số đồng bào hải ngoại đều đoàn kết trong mục tiêu chống chế độ độc tài độc đảng tại quê nhà, đều thành đạt rực rỡ (nhờ không có CS) với hơn 300 ngàn chuyên gia đủ loại, trong đó có nhiều khuôn mặt làm vẻ vang dân Việt như khoa học gia Dương Nguyệt Ánh và dân biểu Cao Quang Ánh tại Hoa Kỳ, bộ trưởng y tế Philipp Rösler tại Đức, giáo sư Trịnh Xuân Thuận tại Pháp, tân giám mục Nguyễn Mạnh Hiếu tại Canada… Họ đều hướng về đất nước chứ không hướng về đảng CS, vì thế chẳng mấy ai hồi hương để phục vụ dưới cái ách của chế độ. “Ðại đoàn kết dân tộc” chỉ là một chiêu bài lường gạt quá cũ rích, vì cả một lịch sử dài cho thấy đó chỉ có nghĩa là ở dưới trướng của đảng, nằm trong tay nhà nước, để giúp cho chế độ tồn tại, với mối nguy thường trực “bị vắt chanh bỏ vỏ”!
Thứ đến, “giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá và truyền thống dân tộc trong cộng đồng người VN ở nước ngoài” là việc mà đồng bào hải ngoại đã làm từ lâu và làm rất tốt. Những lễ hội truyền thống, những dạng hình nghệ thuật (cổ và kim), những tác phẩm văn hóa (thơ văn, ca nhạc, sử địa…), các lớp học Việt ngữ đã được các cộng đồng người Việt khắp nơi trân trọng giữ gìn và phát triển. Đang khi đó thì tại VN, kể từ 1954 đến nay, biết bao giá trị văn hóa đã bị thủ tiêu (điển hình qua cuộc Cải cách nông nghiệp, cuộc Tấn công Mậu Thân), bao công trình văn hóa bị phá bỏ (hàng vạn ngôi chùa với di sản vô giá từ thời Lý, Trần, Lê, Nguyễn, mới nhất là vụ xóa sổ di tích Hoàng thành Thăng Long và đền thờ Lý Chiêu Hoàng), bao ý nghĩa văn hóa bị bóp méo (thờ tên đồ tể Hồ Chí Minh bên cạnh các giáo tổ và anh hùng dân tộc, tạo ra quái thai “Văn hóa đảng”, công nhận “làng văn hóa” là làng không có phản đối những bất công của cường quyền…). Đặc biệt cái nôi của văn hóa cho mỗi người là trường học thì bị băng hoại vì giả dối và bạo hành, vì tham nhũng và bóc lột, vì đầu độc và ngu dân.
Việc kêu gọi “chuyên gia, trí thức kiều bào góp phần vào sự nghiệp xây dựng đất nước” cũng là một trò lường gạt quá cũ. Ai mà không nhớ tới kinh nghiệm đau thương của Luật sư Nguyễn Mạnh Tường, Tiến sĩ Trần Ðức Thảo, Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện… Sau khi lấy 2 bằng tiến sĩ lúc mới 23 tuổi tại Pháp, luật sư Trường trở về nước hành nghề, sau đó theo “cách mạng”. Năm 1956, vì viết bài phê bình những sai lầm trong Cải cách ruộng đất, ông đã bị tước hết mọi công việc, quyền lợi, phải sống như kẻ bị khai trừ, lây lất nghèo đói cho tới chết. Tiến sĩ triết học Trần Ðức Thảo, khi rời nước Pháp năm 1951 để trở về Bắc Việt tham gia kháng chiến, thì đã thấy ngay cái học của mình bị Hồ Chí Minh khinh khi bằng cách chỉ giao cho dịch các truyền đơn sang Pháp ngữ. Năm 1956, vì có viết một bài về vấn đề phát triển tự do dân chủ cho nhóm Nhân văn Giai phẩm nên ông bị kết tội là phần tử phản động. Bị tước mọi phương tiện sống, Tiến sĩ Thảo trở thành một kẻ ăn mày lang thang. Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện, sau một đời cung cúc phục vụ CS kể từ khi về nước năm 1963, cuối cùng thì đã bị khai trừ vì tội viết “Thất trảm sớ” gởi Quốc hội CS….
Còn các “Doanh nhân kiều bào [muốn] góp phần vào sự nghiệp xây dựng đất nước” thì hãy nhớ tới gương ông Nguyễn Trung Trực, Việt kiều Úc về đầu tư ngành ngân hàng, bảo hiểm, bị sạch túi; ông Trịnh Vĩnh Bình, Việt kiều Hòa Lan về đầu tư ngành dầu hỏa không những bị tước lột mà còn bị tù đày; ông Nguyễn Gia Thiều, Việt kiều Pháp (chồng hoa hậu Hà Kiều Anh) về đầu tư ngành viễn thông cũng bị tán gia bại sản và tù tội; ông Nguyễn An Trung, Việt kiều Nhật, về VN làm giám đốc Công ty Sài Gòn Ôtô rồi lâm vòng lao lý; ông Nguyễn Đình Hoan, Việt kiều Mỹ, về đầu tư giáo dục, chẳng những mất hết của cải mà còn bị tù, bị vu khống, bị cấm rời VN, bị Công an làm tình làm tội… Họ cũng chớ quên vụ cò mồi Trần Trường, Việt gian tay sai cho Việt Cộng ở Mỹ, về đầu tư đào ao nuôi cá, rồi cũng bị khốn đốn và vặt trụi; vụ ông Đỗ Thành Công, Việt kiều Mỹ, về thăm gia đình ở Phan Thiết, bị Công an bắt giam, chụp mũ là khủng bố, bị kết tội bịa đặt là âm mưu đánh phá Toà đại sứ Hoa Kỳ ở Hà Nội….
Điểm dối trá lường gạt thứ ba, đó là Cộng sản còn gọi Hội nghị này là “Hội nghị về nguồn”, cụ thể hóa “chính sách trở về cội nguồn của người VN ở nước ngoài”, trên “tinh thần hòa hợp, đại đoàn kết dân tộc cùng hướng về nguồn cội”. Nguồn cội của con Hồng cháu Lạc đúng là Đất Mẹ VN, nhưng tuyệt nhiên khó có thể hướng về khi Đất Mẹ bị cai trị bởi một chế độ sai trái về phương diện chính trị và đạo đức. Không thể “về nguồn” theo nghĩa chấp nhận làm nạn nhân của một tập đoàn chuyên phản bội, chấp nhận làm tay sai cho giai cấp tư bản đỏ, chấp nhận làm tôi trung phục vụ đảng CS, nếu không sẽ đi vào con đường máu và nước mắt như tu đoàn Bát Nhã hiện thời. Không thể “về nguồn” khi CSVN ngày càng hiện nguyên hình là một tổ chức hoạt động không giấy phép, dùng bạo lực để cưỡng chiếm tài sản của toàn dân, phạm 4 tội ác cơ bản: tội thành lập một chế độ cai trị bất chính; tội tổ chức việc tham ô ngày càng tinh vi, lộ liễu và trắng trợn; tội đem giang sơn Tổ quốc bán cho lân bang, vừa để trả nợ chiến phí, vừa để được bảo vệ ngai vàng; tội phát triển các tệ đoan xã hội nhằm làm cho quần chúng, nhất là giới trẻ, ham mê trác táng, để nhân dân phần nào giảm đi cường độ chống bạo quyền (theo Đỗ Thái Nhiên, Về nguồn hay về hùa?).
Nếu tập đoàn lãnh đạo Cộng sản thực tâm đặt quyền lợi tổ quốc trên quyền lợi đảng phái thì trước khi tổ chức Hội nghị Người Việt, họ phải làm những việc sau đây: 1- phóng thích lập tức và vô điều kiện các tù nhân chính trị, 2- chấp nhận một xã hội đa đảng, đa nguyên, 3- cho phép báo chí tư nhân được xuất bản, 4- mời các nhân vật bất đồng chính kiến trong lẫn ngoài nước tham dự Hội nghị. Bằng không thì dù có tổ chức hàng chục Hội nghị như thế, CS cũng chẳng lừa gạt được ai, ngoại trừ những kẻ muốn về VN để chung tay bóc lột đồng bào.
BAN BIÊN TẬP
Bức tường tinh thần tan rã trước
17 November, 2009 at 8:54 am | In Uncategorized | Leave a CommentNgô Nhân Dụng
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=104036&z=7
Trong lịch sử, cảnh sụp đổ của một đế quốc không xảy ra trong một sớm một chiều, mà thường diễn ra qua nhiều năm, có khi kéo dài hàng thế kỷ. Các đế quốc La Mã, Ba Tư, Ottoman đời trước tan rã khi lực lượng quân sự và guồng máy thu thuế bị tản ra quá mỏng, quyền lực ở trung tâm yếu đi, mất dần khả năng kiểm soát các địa phương. Những đế quốc đó thường vỡ ra từng mảnh, từng mảnh một trước tan biến dần dần. Trong thế kỷ trước, đế quốc Xô Viết không giải tán theo lối tiệm tiến và mất từng bộ phận như thế. Tất cả cùng sụp đổ chỉ trong vòng mấy tháng, có thể nói chỉ trong có mấy ngày.
Nguyên nhân trực tiếp gây nên cảnh tan rã “ngoạn mục” của chế độ cộng sản ở Ðông Âu và Liên Xô là do thất bại trong quản lý kinh tế, như đã trình bày trong mục này tuần trước. Tuy nhiên, kinh tế trì trệ chỉ là một mặt trong cảnh bế tắc toàn diện của cả hệ thống cai trị do Lenin và Stalin dựng lên. Ðế quốc Xô Viết đã bắt đầu suy yếu tự trong nền tảng từ lâu rồi. Nói về sự sụp đổ của các chế độ cộng sản, Nhà văn Vũ Thư Hiên không đặt trọng tâm vào tình trạng quản lý kinh tế thất bại. Ông cho là cả hệ thống cai trị kiên cố vĩ đại đó đã tan rã chính vì người dân không còn chịu đựng được cảnh “mất nhân tính đến cùng cực” nữa. Nhà văn đã sống trong một chế độ giống như vậy. Chính mắt ông đã chứng kiến cảnh “mất nhân tính đến cùng cực” ở chung quanh mình, diễn ra trong chính những người đã từng là thân thiết với gia đình ông. Vũ Thư Hiên đã nhìn thấy những điều cơ bản khiến xã hội xô viết tan rã.
Khi dân Ðức lấy búa đập vỡ bức tường Berlin, họ đã châm lửa vào một ngòi nổ, ngọn lửa cháy bén từ từ như một sợi dây thuốc pháo, và lần lượt các thùng thuốc nổ khác liên tiếp theo nhau bùng cháy. Tại sao vụ nổ dây chuyền lại lan ra nhanh chóng như vậy? Lý do lớn nhất, trước hết, là vì cả nền tảng tinh thần của những xã hội cộng sản đó đã nát rữa từ lâu, cả hệ thống dựa trên bạo lực và dối trá chỉ chờ ngày tan ra từng mảnh. Khi bao nhiêu con người đã mất niềm tin vào cuộc sống giả tạo chung quanh mình, mất niềm tin vào những người chung quanh, chính họ thấy cuộc đời không còn có ý nghĩa, không còn giá trị như trong ảo tưởng mà họ vẫn nuôi nấng nữa, thì cả xã hội tự hủy diệt. Vì phải hủy diệt, rồi mới có cơ hội tái sinh.
Một xã hội tồn tại được lâu dài và ổn định là nhờ mọi người cùng chia sẻ những giá trị chung, một cách chính thức hay là mặc nhiên. Có những lý tưởng cao xa mà ai cũng tôn quý đã được cả xã hội biến thành thói quen trong cuộc sống hàng ngày khi đối đãi với nhau, routinization. Mọi người đồng ý với nhau một số ước lệ trong cuộc sống. Những cử chỉ, lời nói hay thái độ mà chúng ta gọi là lễ phép, lịch sự, thanh nhã, vân vân, đã được cả xã hội coi là lối sống tự nhiên, ai cũng ăn ở như vậy. Người ta cứ nói, cứ làm và nghĩ theo các thói quen đó là có thể tin rằng mình sẽ đạt được điều tốt, điều thiện, cuộc đời mình có ý nghĩa và có giá trị.
Nhưng khi phải sống trong một khung cảnh giả dối quá lâu thì khác. Người ta phải nghe những điều dối trá mà bị bắt buộc coi như là sự thật, phải tập thói quen sống giả dối với nhau, lừa lọc lẫn nhau. Khi ra đường phải đóng kịch, về nhà cũng không dám sống thành thật với anh em, vợ con. Mọi người đành chấp nhận đạo lý sa sút mà không ai dám công khai phản đối. Khi đó, mỗi người không còn tin ở người khác và cũng không tin ở chính mình nữa. Họ bắt đầu thấy chán, không còn lý do để tiếp tục sống theo thói quen và tập tục xã hội mà chính họ không còn tha thiết bảo vệ nữa. Nền tảng tinh thần của xã hội đã tan rã. Người ta chán ngán, chỉ muốn cơ hội “đổi đời” để cuộc sống của chính mình có ý nghĩa hơn.
Năm 1989 là lúc những người cầm đầu các đảng Cộng Sản ở Ðông Ðức, ở Tiệp Khắc và Ba Lan cũng chán ngấy không thấy lý do nào để biện minh việc ra lệnh bắn giết đồng bào của họ nữa khi dân chúng kéo nhau đi biểu tình. Hungary mở cửa biên giới, 200,000 người từ Ðông Ðức chạy qua để tìm đường sang Tây Ðức. Ðó toàn là những thanh niên, những người thợ giỏi, những chuyên gia trung niên. Hàng chục ngàn người từ trong nhà thờ ở Leibzig kéo ra đường, một tháng trước ngày bức tường Berlin bị đập, nhưng không một lãnh tụ Ðông Ðức nào ra lệnh đàn áp. Ðàn áp để bảo vệ cái gì khi chính họ cũng thấy cuộc sống của mình đang bế tắc, mà họ phải thấy những đòi hỏi tự do dân chủ của người dân là hợp lý? Ðám mật vụ, công an cầm súng lăm lăm trên tay cũng không thấy lý do nào để xả súng bắn vào đồng bào của họ nữa, mặc dù trước đó Cộng Sản Ðông Ðức đã đe dọa dân biểu tình sẽ bị tắm máu như ở Thiên An Môn.
Ðám công an mật vụ buông súng không phải vì họ sợ những người dân, những người trong tay không tấc sắt. Trước đám đông trông chẳng khác gì cha mẹ, vợ con mình, chính đám công an không còn muốn đóng vai trò một bánh xe quay trong bộ máy chuyên đàn áp, chuyên đi còng tay bắt người, chuyên thủ tiêu, giết người. Vì chính họ đã chán tận cổ lối sống phi đạo lý, phi nhân bản trong một xã hội được duy trì bằng bạo lực và dối trá. Cả xã hội chờ một biến cố châm ngòi để quyết định đổi đời!
Bức tường Berlin đổ vì người ta muốn đập vỡ hệ thống bạo lực và dối trá giam giữ cả xã hội mà trong đó họ phải sống quá lâu. Sau khi các chế độ Cộng Sản Ðông Âu tan, một người dân Ba Lan nói với nhà báo, “Từ nay chúng tôi được sống cuộc đời bình thường.” Ai cũng muốn trở lại làm một con người bình thường sống trong một xã hội bình thường. Loài người không muốn phải sống giả trá, phải nói những lời trái với lương tâm mình, phải gian dối với nhau hàng ngày, mãi không được nghỉ!
Mùa Hè năm 1991 tôi có dịp đi thuyền trên sông Elbe trong vùng Koenigsberg, phía Nam thành phố Dresden. Anh bạn người Ðức sống trong một làng gần đó, thuộc Ðông Ðức cũ, cho hay gần hai năm trước Chủ Tịch Bắc Hàn Kim Nhật Thành cũng ngồi trong chiếc thuyền đó đi du ngoạn trong vùng thiên nhiên mỹ lệ này. Năm 1989 Cộng Sản Ðông Ðức đã mời rất nhiều lãnh tụ cộng sản thế giới đến dự lễ kỷ niệm 40 năm ngày thành lập chế độ. Ðó là một đại lễ nhằm phô trương sự giầu mạnh của Cộng Hòa Dân Chủ Ðức! Tháng Mười năm 1989, tờ Nhân Dân, People Daily ở Bắc Kinh đã tường thuật cuộc lễ hội đánh dấu “40 năm vinh quang” đó, viết rằng: “Nhân dân nước Ðức đang đoàn kết ngày càng mạnh hơn dưới sự lãnh đạo của Ðảng.”
Một nhà lãnh đạo cộng sản khác là Mikhail Gorbachev đã nhìn thấy khác. Trong cuộc phỏng vấn với nhật báo Le Monde ở Pháp đăng ngày 6 Tháng Mười một, năm 2009 vừa qua, ông Gorbachev kể rằng bữa đó ông ngồi trên khán đài chứng kiến cuộc biểu tình vĩ đại mà chính phủ Ðông Ðức tổ chức, dân chúng từ khắp nước được đưa về tham dự. Khi đó Gorbachev đã bắt đầu chủ trương “sửa đổi cơ cấu” (perstroika) ở Nga được mấy năm. Nhiều người Ðức đã đến nói thẳng với ông: Hãy giúp chúng tôi, hãy giúp chúng tôi với! Gorbachev biết đây là một màn trình diễn giả tạo. Ông kể, hai người ngồi ngay hàng ghế phía sau ông trên khán đài là chủ tịch Ba Lan, Tướng Jaruzelski và Thủ Tướng Mieczyslaw Rakovski. Gorbachev nhớ lại: “Rakovski nghiêng người ra phía trước ghé tai tôi nói, ‘Mikhail Sergueievich, ông hiểu tiếng Ðức họ nói chứ?’ Tôi trả lời, ‘Ðủ để hiểu những câu đoàn biểu tình họ đang hô.’ Rakovski nói tiếp, ‘Ông có thấy rằng đây là màn kết cuộc hay không?’ Ðó, tình cảnh nó như vậy.”
Trong khi đó, Gorbachev thuật lại, Chủ Tịch Ðông Ðức Erich Honecker (77 tuổi) vẫn làm như không biết gì cả. “Ông ta vẫn hát, vẫn chia sẻ với chúng tôi vẻ hăng hái giả tạo của ông ta.” Và Honecker nói với người lãnh đạo Liên Xô rằng chế độ của ông ở Ðức đã tái cấu trúc trước cả Liên Xô rồi, cho nên không cần thay đổi gì thêm nữa. Khi Gorbachev gặp toàn thể ban lãnh đạo cộng sản Ðông Ðức, ông nói với họ, “Ai chậm chân quá, sẽ bị cuộc đời trừng phạt.” Nhiều người coi đó là lời tuyên bố kết thúc chế độ cộng sản ở nước Ðức.
Một câu hỏi tuần trước đã nêu lên trong mục này là tại sao những thiên đường mù cộng sản, mặc dù thất bại về kinh tế, suy đồi về đạo lý, mà vẫn kéo dài ở Nga và Ðông Âu được bao nhiêu năm như vậy?
Một nguyên nhân là chiến tranh. Trận Ðại Chiến Thứ Hai đã giúp trì hoãn sự sụp đổ của cả nền kinh tế lẫn chế độ chính trị ở Nga. Chiến tranh và thời kỳ hậu chiến biện minh cho việc kiểm soát và chỉ huy nền kinh tế. Ngay ở các nước tư bản, chính quyền cũng can thiệp vào việc kinh doanh, đưa ra những chỉ tiêu sản xuất, lập sổ tem phiếu để giới hạn việc tiêu thụ. Về mặt chủ tịch, Stalin đã bỏ quên hoàn toàn những khẩu hiệu cộng sản để đề cao lòng ái quốc của dân Nga, kêu gọi người dân hy sinh cho tổ quốc. Chiến tranh còn biện minh cho việc bắt bớ tù đầy những người đối lập, vu cho họ nhãn hiệu “thù địch,” “phản quốc.” Sau chiến thắng, chế độ cộng sản ở Nga có thêm uy tín nhờ lợi dụng sự hy sinh anh hùng của người dân Nga trong cuộc chiến giữ nước. Thời kỳ “chiến tranh lạnh” sau đó cũng chỉ là tình trạng kéo dài của chiến tranh nóng. Không khí chiến tranh giúp các chế độ cộng sản lúc nào cũng đe dọa dân về “các thế lực thù nghịch” bao vây họ, lấy cớ đó kìm kẹp dân chúng và bắt giam mọi người có ý kiến bất đồng. Các chế độ cộng sản còn lại bây giờ cũng cố gắng bảo vệ quyền lợi và địa vị bằng thủ đoạn tương tự. Chính những giai đoạn “detente,” hòa hoãn, sống chung hòa bình, ký các hiệp ước và trao đổi với nhau, đã dần dần tước bỏ các chế độ cộng sản thứ khí cụ tuyên truyền hữu hiệu đó.
Khi những người dân trong khối cộng sản được biết hoặc thấy, qua các đài phát thanh và truyền hình, về đời sống của người dân các nước không cộng sản, dần dần họ tỉnh ngộ và tìm hiểu thêm sự thật. Sự thật, khi được thông tin đầy đủ hơn, giúp người ta nhìn ra chính cuộc sống của họ đắm chìm trong một xã hội dựa trên sự giả trá. Con người không thể “sống giả” mãi như thế được. Ðó là lý do các chế độ cộng sản cuối cùng phải tự hủy diệt. Trong cuộc xoay vần Sinh – Diệt – Diệt – Sinh của một xã hội, hủy diệt sớm thì cơ hội được tái sinh cũng sẽ đến sớm hơn. Người dân Ðức đang dự hội, không phải là để mừng sự sụp đổ của một chế độ, mà là để ăn mừng cơ hội tái sinh của nước họ 20 năm trước đây.
Thư đến GS Hoàng Tụy: Không thể im lặng được, thưa thầy!
13 November, 2009 at 8:54 am | In Bauxite Tây Nguyên | Leave a Commenthttp://bauxitevietnam.info/c/16514.html
Thưa thầy, xin cho phép con được xưng hô với Giáo sư như một người học trò xưng hô với thầy giáo của mình. Có thể cách xưng hô trên chưa thể hiện hết được mức độ tôn kính mà bao thế hệ chúng con dành cho thầy. Nếu có điều gì chưa được hài lòng mong thầy lượng thứ.
Thưa thầy, có lẽ những ngày này, thầy đang rất phiền muộn vì đang có những vụ việc xảy ra liên tiếp ngoài ý muốn của thầy. Trong đó, bài viết về giáo dục của thầy đăng trên trang mạng Tia sáng đã khiến cho trang mạng này bị đình bản, bị xóa cả tên miền như phỏng đoán của thầy trong lá thư gửi đến bạn bè cách đây vài hôm. Đúng là chuyện đáng buồn thật! Bởi một tờ báo đầy uy tín như Tia sáng đã… vụt tắt và không ít bạn bè của thầy bị liên lụy.
Nhưng thưa thầy, sẽ thật đáng buồn hơn, thậm chí là rất đau buồn nếu những trí thức đáng kính, đầy uy tín, tài năng như thầy lại chấp nhận “im lặng đáng sợ” trong thời gian tới. Chúng con thấu hiểu những khó khăn và ưu tư của thầy khi quyết định “im lặng đáng sợ”. Nhưng sứ mạng của một nhà giáo là không thể im lặng, và càng không thể im lặng trước những nguy cơ đe dọa đến sự nghiệp giáo dục của nước nhà. Nếu những người như thầy không lên tiếng thì sứ mạng này sẽ thuộc về ai? Những ai có đủ tâm, đủ tầm để lên tiếng? Và đến khi nào thì họ sẽ lên tiếng?
Chúng con đã từng sáng ra rất nhiều, những người làm công tác giáo dục nước nhà có lẽ cũng sáng ra ít nhiều từ những ý kiến mạnh mẽ đầy sức thuyết phục của thầy về giáo dục của nước nhà. Còn nhớ năm 2005, khi thầy cùng 23 nhà giáo khác “dâng sớ” yêu cầu Chính phủ cải cách và hiện đại hóa giáo dục , sự kiện này đã được “mọi người đồng thuận hưởng ứng” ( theo cách dùng từ của Báo Tuổi trẻ lúc bấy giờ). Từ đó, diễn đàn “Chấn hưng giáo dục – mệnh lệnh từ cuộc sống” của báo Tuổi trẻ ra đời, đến nay nó vẫn còn là một phần chính trong mục giáo dục của tờ báo này để đóng góp ý kiến, ý tưởng cho giáo dục. Dù kết quả có thể chưa được như ý của thầy và các nhà giáo đã “dâng sớ”, nhưng chắc chắn nó đã giúp cho giáo dục Việt Nam kiềm chế mức độ chệch hướng, đồng thời giúp cho những người làm công tác giáo dục chịu khó nhìn trước ngó sau hơn khi thực hiện các quyết định của mình.
Sau đó một thời gian, ông Nguyễn Thiện Nhân được cử làm Bộ trưởng Bộ Giáo dục, lúc đó dường như ông thể hiện quyết tâm làm một Bộ trưởng Giáo dục thật sự. Ngày 02/7/2006, Bộ trưởng gửi thư đến báo Tuổi trẻ để cam kết với bạn đọc rằng, “10 năm tới, giáo dục Việt Nam sẽ khác”. Giờ đây đã hơn 3 năm trôi qua, thầy và những người quan tâm đến giáo dục Việt Nam đã cảm thấy sốt ruột, bởi con thuyền giáo dục nước nhà vẫn cứ như đang tròng trành long đong giữa biển khơi mà chưa thể tìm được hướng đến bến đỗ! Bài viết “Giáo dục, xin cho tôi hỏi thẳng” thể hiện sự suốt ruột đó chăng?
Thưa thầy, bức tranh giáo dục Việt Nam có gam màu sáng hay tối không hẳn là điều gì đó quá bí mật trong suy nghĩ đối với đại đa số người Việt Nam hôm nay. Tuy nhiên chúng ta cần những người vén bức màn đang che phủ bức tranh đó để dân tộc chúng ta có dịp nhìn thẳng vào sự thật chứ không chỉ là sự mường tượng chung chung. Bức tranh đó cần được đưa ra ánh sáng để những ai vô cảm hay cố tình dùng giáo dục như một phương tiện cho những mục đích cá nhân phải ít nhiều chùn bước, những ai còn cố bám víu vào hào quang giả tạo của nền giáo dục hiện nay phải tỉnh ngộ.
Những người lãnh nhận sứ mạng phản biện và đổi mới sự nghiệp giáo dục hiện nay của đất nước buộc phải đối đầu với những khó khăn muộn phiền, thậm chí nguy hiểm. Nhưng nếu không phải là những người như thầy, không phải là bây giờ, thì ai và khi nào chúng ta đưa ra những thông điệp đổi mới cho giáo dục? Thế hệ chúng con hôm nay có lẽ vẫn còn cần sự chia sẻ và gánh vác gánh nặng này của các thầy thêm một thời gian nữa, dù biết rằng đáng lý ra ở cái tuổi “xưa nay hiếm” thầy đã có thể vui vẻ hưởng tuổi già.
Một “Tia sáng” bị dập tắt bởi không được phép sáng hay không có điều kiện để sáng đã là điều đáng suy nghĩ. Nhưng nếu hàng triệu “tia sáng” trong mỗi trái tim con người Việt Nam chúng ta “tự nguyện tắt” thì đó là dấu chấm hết cho một dân tộc, thưa thầy!
Hoài Nam
Tham khảo:
http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=46993&ChannelID=13
http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=147944&ChannelID=13
Lòng Dân hơn Ý Ðảng
12 November, 2009 at 8:34 am | In Bình luận: Ngô Nhân Dụng | Leave a CommentNgô Nhân Dụng
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=103921&z=7
Cuối tuần vừa qua, Dân Biểu Cao Quang Ánh là người Việt Nam nổi tiếng nhất ở nước Mỹ. Các đài truyền hình liên tục loan tin và phỏng vấn ông. Một người bạn ở xa điện thoại hỏi “Joseph Cao có phải là người Việt hay không?” Khi biết ông đúng là người Mỹ gốc Việt Nam, chị vui mừng gọi điện thoại cho các con để chia sẻ niềm vui với cả gia đình.
Ông Cao Quang Ánh là dân biểu duy nhất thuộc đảng Cộng Hòa đã bỏ phiếu ủng hộ dự luật cải tổ y tế ở Hạ Viện. Hầu hết thư độc giả gửi đến Người Việt đều khen ngợi ông là người can đảm và tỏ ý hãnh diện về một người Việt Nam như ông, mặc dù đa số người Việt ở Mỹ nghiêng về phía Cộng Hòa. Một độc giả đặt câu hỏi: Tại sao Dân Biểu Cao Quang Ánh không đổi sang đảng Dân Chủ cho rồi, khi ông bỏ phiếu ngược lại với tất cả các dân biểu khác cùng đảng? Có lẽ nhiều người Việt ở trong nước cũng đặt câu hỏi như vậy, vì không quen thuộc với nếp sống chính trị ở Mỹ.
Trả lời câu hỏi của các nhà báo, ông Cao Quang Ánh giải thích rằng ông đã bỏ phiếu ủng hộ dự luật cải tổ y tế vì dự luật đó cần thiết cho đại đa số dân chúng trong đơn vị đã bầu ông làm đại diện. Ðây là lý do giản dị nhất, và rất đáng suy nghĩ.
Ở nước Mỹ, các đại biểu dân cử thường thuộc một trong hai đảng, Cộng Hòa và Dân Chủ. Họ chia sẻ với đảng mình những giá trị căn bản, thể hiện qua các chủ trương, đường lối trị quốc. Nhưng khi đắc cử, các dân biểu là đại biểu của người dân trong địa hạt, các nghị sĩ là đại biểu của người dân trong tiểu bang. Họ không là đại biểu của một đảng chính trị.
Ở mỗi viện Quốc Hội mỗi đảng có guồng máy điều hợp công tác thảo luận và bảo đảm việc bỏ phiếu của các đại biểu phù hợp với chủ trương của đảng. Guồng máy đó gồm người trưởng khối đa số hoặc thiểu số, có người phụ tá trưởng khối (nghị trường Mỹ gọi là whip) lo việc điều động, theo dõi, thảo luận, khuyến cáo và nhiều khi phải ép buộc các đại biểu thuộc đảng mình bỏ phiếu theo ý chung của đảng. Trước khi các đại biểu mỗi viện họp khoáng đại, ban lãnh đạo trong mỗi viện thường họp với họ để thông qua quyết định chung; người phó trưởng khối có bổn phận đếm cho đủ số phiếu cần thiết để ủng hộ hoặc bác bỏ một dự luật, theo đường lối chung đó.
Tuy nhiên, điều lệ các đảng chính trị ở Mỹ không bắt buộc các đại biểu phải luôn luôn biểu quyết theo chủ trương của ủy ban lãnh đạo toàn quốc. Các đại biểu khi chọn lựa bỏ phiếu trong nghị trường cũng không nhất thiết phải theo chỉ thị của ban lãnh đạo đảng mình trong mỗi viện.
Những nhà chính trị Mỹ gia nhập một đảng vì nhu cầu đoàn kết với những người cùng quan điểm với mình, nhưng nhiều khi họ chỉ chia sẻ một số lớn các giá trị và quan điểm, chứ không phải tất cả mọi chủ trương, đường lối của nhau. Ðó cũng là đặc tính của các cử tri của Mỹ khi họ ghi danh thuộc một đảng nào trong danh sách cử tri. Thí dụ một người Mỹ quyết định bỏ phiếu cho đảng Cộng Hòa vì ủng hộ chủ trương chống phá thai và chống hôn nhân đồng tính, nhưng có thể vẫn bất đồng ý kiến với đảng đó trong chủ trương về vấn đề di dân lậu vào nước Mỹ hoặc về môi trường sống. Cử tri này coi các giá trị về đạo lý khiến phải chống phá thai là quan trọng, còn ý kiến về vấn đề di dân hoặc sinh môi có thể tạm bỏ qua, cho nên vẫn bỏ phiếu cho đảng Cộng Hòa.
Các đại biểu Quốc Hội cũng vậy. Họ có thể chia sẻ 70%, 80% các đường lối của đảng nào thì gia nhập đảng đó, chứ không nhất thiết phải đồng ý 100%. Cho nên, khi bỏ phiếu họ có thể cân nhắc nhiều khía cạnh khác nhau chứ không nhất thiết chỉ làm theo chỉ thị của ban lãnh đạo đảng. Mặc khác, những người gia nhập một đảng không cần phải đưa tay tuyên thệ trung thành và vâng lệnh cấp trên, như các băng đảng du đãng hoặc mafia! Họ vẫn là những người tự do sống trong một xã hội tự do! Họ quyết định lá phiếu theo phán đoán riêng, theo tiếng gọi của lương tâm, và nhất là theo nguyện vọng cùng quyền lợi của các cử tri bầu cho họ.
Vì vậy, Nghị Sĩ John McCain thuộc đảng Cộng Hòa đã từng bỏ phiếu chống lại dự luật cắt giảm thuế của nguyên Tổng Thống George W. Bush cùng đảng; Nghị Sĩ Hillary Clinton thuộc đảng Dân Chủ thì bỏ phiếu ủng hộ quyết định tấn công Iraq của ông tổng thống thuộc đảng khác mình. Dân Biểu Cao Quang Ánh cũng quyết định giống như vậy khi bỏ phiếu ủng hộ dự luật cải tổ y tế tại Hạ Viện Mỹ. Ông chống phá thai, theo niềm tin của ông vào giá trị con người. Nhưng ông biết dự luật cải tổ y tế có thể đem lại những lợi ích lớn cho dân chúng trong đơn vị đã bầu ông. Vì đa số họ là những người nghèo không được hưởng những lợi ích của các chương trình bảo hiểm tư. Là đại biểu của họ tại Quốc Hội, ông phải làm theo ý nguyện của các cử tri đã ủy nhiệm cho mình, dù khi bỏ phiếu năm 2008 có nhiều người không ủng hộ ông. Khi đa số các đại biểu ở Hạ Viện đã bỏ phiếu thông qua dự luật của Dân Biểu Stupak không cho phép dùng công quỹ để trợ giúp những vụ phá thai, trong chương trình bảo hiểm y tế công cộng cũng như bảo hiểm tư, một vấn đề lương tâm của ông Cao Quang Ánh đã được giải quyết. Và khi đó, ông chỉ còn một lựa chọn, là làm theo nguyện vọng của cử tri.
Hành động của Dân Biểu Cao Quang Ánh cũng tương tự như của 37 dân biểu thuộc đảng Dân Chủ bỏ phiếu chống dự luật cải tổ y tế. Phần lớn những người này đại diện cho các đơn vị bầu cử mà đa số dân chúng rất bảo thủ, trong đó có nhiều đơn vị đã bỏ phiếu ủng hộ Nghị Sĩ John McCain trong cuộc bầu cử năm ngoái. Những người dân này tin tưởng vào nhiều giá trị mà đảng Cộng Hòa vẫn đề cao. Thí dụ, niềm tin vào thị trường tự do và chống các hành động can thiệp của chính phủ vào các quyết định kinh tế của tư nhân khiến họ rất nghi ngại trước ý kiến thiết lập một chương trình y tế công cộng. Thí dụ khác, những người bảo thủ về tài chánh thì chống cảnh ngân sách khiếm hụt, cho nên cũng lo ngại khi thấy chương trình cải tổ bảo hiểm y tế của đảng Dân Chủ quá tốn kém. Trước các mối lo ngại của đa số cư tri như vậy, 37 đại biểu đảng Dân Chủ đã không ngần ngại bỏ phiếu chống lại đảng của họ.
Các đại biểu Quốc Hội ở các nước có tự do bầu cử đều phải làm theo nguyện vọng của dân, chứ không làm theo chỉ thị của đảng. Họ phải dùng quyền lực của một dân biểu để tranh đấu cho những nhu cầu thiết thực của người dân đã tín nhiệm mình, trong bất cứ trường hợp nào. Trước ngày Hạ Viện bỏ phiếu, Tổng Thống Barack Obama đã tới Quốc Hội để vận động các đại biểu thuộc đảng Dân Chủ ủng hộ ông. Ông đã phải gọi điện thoại riêng cho Dân Biểu Cao Quang Ánh để xin phiếu, vì không biết chắc có bao nhiêu người thuộc đảng Dân Chủ sẽ bỏ phiếu thuận. Ðồng thời ông Obama cũng muốn chương trình cải tổ y tế của ông không phải chỉ do một đảng Dân Chủ quyết định mà có sự tham dự của cả đảng Cộng Hòa, dù chỉ có được một người là ông Cao Quang Ánh.
Không phải lúc nào một vị dân biểu ở Mỹ được vị tổng thống gọi điện thoại trực tiếp “xin phiếu.” Nhân cơ hội đó, Dân Biểu Cao Quang Ánh đã buộc ông tổng thống Mỹ phải nhượng bộ ông mấy điều trong các dự án khác có lợi cho dân chúng trong đơn vị của mình. Ông Cao Quang Ánh đã yêu cầu chính phủ liên bang Mỹ phải giúp việc xây dựng lại bệnh viện trong đơn vị của ông, và miễn cho người dân vùng New Orleans khỏi phải hoàn trả các món nợ tái thiết sau cơn bão Katrina. Ðiều này chứng tỏ ông Cao Quang Ánh đã “thuộc bài” chính trị ở nghị trường nước Mỹ, bất cứ cơ hội nào cũng dùng quyền lực lá phiếu của mình để tranh đấu cho quyền lợi của dân. Ông Cao Quang Ánh biết rằng năm ngoái ông may mắn đắc cử vì người đại biểu cũ của đơn vị này bị mang tiếng về tham nhũng, và ngay trong đảng Dân Chủ của ông ta cũng nhiều người tranh cử chống lại nên chia phiếu. Ðó là một đơn vị lâu nay vẫn chỉ bỏ phiếu cho đảng Dân Chủ, ông Cao Quang Ánh là đại biểu Cộng Hòa đầu tiên. Ông Cao Quang Ánh không biết là sang năm 2010 ông còn được tái cử nữa hay không. Nhưng khi đã mang danh đại biểu Quốc Hội của một địa hạt thì ông nhất định làm những điều phải và phục vụ cho các cử tri trong địa hạt của mình. Ðó là điều mọi người Việt Nam có thể hãnh diện về ông.
Ðây là một bài học về đời sống dân chủ tự do mà rất tiếc đồng bào chúng ta ở Việt Nam không được thấy trực tiếp. Các đại biểu Quốc Hội ở Việt Nam thường không bao giờ theo ý kiến của dân mà bỏ phiếu chống lại các quyết định của chính phủ Cộng Sản. Vì chính họ được đảng Cộng Sản đưa ra ứng cử, họ được đắc cử là nhờ đảng. Họ là đại biểu của đảng Cộng Sản chứ không đại diện cho dân. Chế độ độc tài nào cũng như vậy! Chỉ khi chế độ Cộng Sản Việt Nam bị sụp đổ như ở Ðông Âu 20 năm trước đây thì mới có thể thấy những tấm gương can đảm như ông Cao Quang Ánh.
Người phụ nữ số 1 thế giới: sao họ phải che dấu?!
11 November, 2009 at 8:40 am | In Uncategorized | Leave a CommentBùi Tín

Ngày hôm nay 9-11-2009 là ngày kỷ niệm chẵn 20 năm ngày sập đổ bức tường Berlin. Cả nước Đức mở hội lớn, cả châu Âu cùng náo nức kỷ niệm, toàn thế giới chung vui với sự kiện lịch sử tuyệt vời này.
Có thời gian dài nhìn lại và suy ngẫm, mọi người thấy rõ thêm ý nghĩa rộng lớn của sự kiện chấn động toàn cầu này. Chính vì thế mà tổ chức kỷ niệm ở Berlin, trong toàn nước Đức được cả thế giới quan tâm hào hứng theo dõi.
Riêng ở Hà nội và Việt nam, cho đến nay các đài báo im thin thít.
Các nhà lãnh đạo thông tin ở Việt nam cứ như muốn bắt toàn dân nghĩ rằng không hề có cái ngày lịch sử bức tường Berlin bị đổ sập, dù cho có thì không được nghĩ đến cái ngày họ cho là đen đủi tai hại ấy. Họ thực hiền cái gọi là sàng lọc thông tin, là thông tin có định hướng. Họ khôn, nhưng thật ra là dại. Vật cấm thành hấp dẫn.
Ngày 3-11 vừa qua, có một tin được tất cả các hãng thông tấn lớn trên thế giới loan tin và đăng tải, đó là sự kiện bà Thủ tướng Đức Angela MERKEL đọc một bài diễn văn lịch sử trước 2 viện của Quốc hội Hoa kỳ, nhân sắp đến ngày kỷ niệm 9-11 nói trên. Cho đến nay, không tờ báo nào ở Việt nam đưa tin này.
Cũng trong dịp này, các báo trên thế giới đều đưa tin rộng rãi về bà A. Merkel, vị thủ tướng “kép”, 2 lần liên tiếp (năm 2005 và 2009) được Quốc hội liên bang bầu vào chức Thủ tướng, có nhiều quyền lực nhất trong nước Đức thống nhất. Họ gọi bà là “bà thủ tướng thép” do tính kiên định chính trị của bà, đồng thời chỉ rõ “nữ tính” tế nhị, chân tình, dản dị dễ mến của bà.
Vì sao các nhà lãnh đạo thông tin báo chí Hànội lại che che, dấu dấu, không cho công dân Việt, phụ nữ Việt, trí thức Việt biết về bà thủ tướng A. Merkel, về tiểu sử lý thú và bài diễn văn cảm động của bà, cùng với lễ kỷ niệm lớn 9-11 nói trên mà bà A. Merkel đang là nhân vật trung tâm?
Các bạn hãy tiếp nhận vài thông tin liên quan về bà, sẽ hiểu được cái lý do vì sao ấy.
Trước Quốc hội Hoa kỳ, bà A. Merkel kể rằng bà sinh ra ở tỉnh Brandenbourg thuộc phía Bắc nước Cộng hoà Dân chủ Đức trước đây, vào năm 1954, sau khi Chính phủ Đông Đức được thành lập được 5 năm. Cha bà là mục sư của đạo Tin lành theo phái Luther, mẹ bà là giáo viên nhưng không được dạy học. Từ bé, A. Merkel phải vào đoàn thiếu niên Ernst Thaleman, và sau đó là đoàn thanh niên tự do(!) Đức đều do đảng CS mang tên “Đảng xã hội Thống nhất Đức” lập nên. Bà học giỏi, 14 tuổi được giải Olympic Toán quốc tế, sau đó vào Trường Đại học Tổng hợp Leipzig, tốt nghiệp khoa vật lý, rồi về làm việc tại Viện Hóa-Lý thuộc Viện Hàn lâm khoa học Berlin.
Trước khi bức tường Berlin sập đổ, cô cán bộ vật lý A. Merkel tuy có những băn khoăn về tự do tôn giáo, tự do công dân do bố là mục sư và mẹ có tín ngưỡng sâu đậm, nhưng cô chỉ say mê khoa học, không hoạt động chính trị.
Bà kể rằng ngày 9-11-1989, bà sống ở gần bức tường, bị cuốn hút mãnh liệt bởi biển người tận cùng hứng khởi, Đông Tây ôm chầm lấy nhau, hôn nhau, ca hát, khóc cười, nhảy múa thâu đêm suốt sáng, kéo dài hàng tuần lễ… chính sự kiện lớn ấy đã thôi thúc bà dấn thân hoạt động chính trị.
Cô trí thức 34 tuổi sống dưới chế độ cộng sản Đông Đức từ khi chào đời đã thấm hiểu từ trong xương tủy sự hủy diệt tự do và chà đạp nhân phẩm là bi thảm ra sao, liền gia nhập Đảng Liên minh Dân chủ Cơ đốc CDU, trở thành phó Chủ tịch CDU, rồi Bộ trưởng Thanh niên, Bộ trưởng Môi trường trong chính phủ Liên bang. Bà được toàn dân Đức, cả phía Tây và phía Đông cũ quý mến, tin yêu do tính ngay thật, thẳng thắn, yêu nước thương dân, trong sạch. Bà sống dản dị, không chút màu mè, phấn son, không xức nước hoa xa xỉ, không đồ trang sức ở cổ, tay, đi làm bằng chiếc xe Audi nhỏ, uống nước chè có vị bạc hà, trong phòng làm việc của Thủ tướng liên bang không có một đồ vật trang trí, tranh, tượng, ảnh lớn nào.
Chính Thủ tướng Helmut Koln hồi ấy đã phát hiện ra những phẩm chất chính trị và nhân văn ở A. Merkel, bồi dưỡng và giới thiệu cho chính giới và cử tri toàn quốc một nhân tài quý hiếm, được đa số công nhận rộng rãi, để Cộng hoà Liên bang Đức có một nữ thủ tướng đầu tiên là phụ nữ, lại rất trẻ, khi nhận chức 51 tuổi, năm nay 55 tuổi, được dân Đức tin yêu, toàn thế giới quý trọng.
Sáng 3-11 vừa qua, bà A. Merkel hoàn toàn chinh phục 2 viện Quốc hội Hoa kỳ trong một bài nói rất có tâm và có tầm, nhắc lại những nét nổi bật của thế giới từ sau thế chiến II, sự chia cắt phũ phàng của thế giới, sự căng thẳng của Chiến tranh Lạnh, niềm vui toàn cầu 20 năm trước khi bức tường Berlin sập đổ.
Bà khẳng định nguyện vọng tự do của con người là tất thắng, là không gì ngăn cản nổi.
Bà chỉ rõ hiện có những bức tường đen tối còn tồn tại, nhưng tất yếu nó sẽ phải đổ, đột nhiên đổ nhưng không bất ngờ. Bà nhắc lại lời tổng thống Clinton sau ngày 9-11-1989: “Mọi chuyện đều có thể xảy ra, không gì có thể cản trở chúng ta tiến về phía trước!”
Cả đoạn cuối bài diễn văn, bà Thủ tướng Đức dành để ca ngợi Tự do của các dân tộc với những hình ảnh xúc động đến lãng mạn. Bà nói đến âm thanh của những hồi chuông Tự do vang động trên đất Mỹ và châu Âu, khẳng định: “tự do là quy luật của cuộc sống kinh tế – xã hội ngày nay. Chỉ có tự do con người mới có sáng tạo!”
Mong rằng đông đảo anh chị em ta, đồng bào ta ở trong nước đọc được bài diễn văn lý thú và bổ ích này. Mong rằng các cô Công Nhân, Thanh Thuỷ, Thanh Nghiên, Bích Khương… ở trong nước có dịp nghe và biết về người phụ nữ số 1 trong 100 phụ nữ xuất sắc nhất thế giới, do tạp chí Hoa kỳ FORBES bình bầu mỗi năm. Suốt 5 năm nay, FORBES đều ghi A. Merkel là nhân vật phụ nữ số 1, chưa ai vượt qua. Một tấm gương khích lệ chị em tự tin dấn thân cho Tự do.
Bà đã chọn lựa một trí thức gốc Việt – nạn nhân chiến tranh – để giao chức bộ trưởng y tế liên bang, bộ trưởng trẻ nhất trong nội các thứ 2 của bà.
Chính vì thông điệp tự do mạnh mẽ sâu sắc và lôi cuốn như trên mà những nhà lãnh đạo thông tin toàn trị chủ trương sàng lọc thông tin, thông tin có định hướng, chỉ muốn bịt mắt bịt tai dân chúng trong dịp kỷ niệm lịch sử 20 năm đổ sập bức tường Berlin, che che dấu dấu về người Phụ nữ số 1 nổi bật trên cát bụi của bức tường đổ nát ấy.
Bùi Tín
Paris 9-11-2009.
“Một bức tường ở Berlin”: bộ phim người Việt cần xem
10 November, 2009 at 8:06 am | In Uncategorized | Leave a CommentBùi Tín
http://danchimviet.com/articles/1649/1/Mt-bc-tng–Berlin-b-phim-ngi-Vit-cn-xem-/Page1.html
Tối thứ ba 3-11-2009 vừa qua, trên màn vô tuyến Pháp France 2, bộ phim “Một bức tường ở Berlin” – “Un mur à Berlin” – dài hơn 2 tiếng đồng hồ, được trình chiếu buổi đầu tiên.
Bộ phim được quảng cáo rộng rãi hơn 2 tháng nay, để chào đón ngày kỷ niệm lớn, chẵn 20 năm ngày sập đổ bức tường Berlin – bức tường chia cắt nước Đức, châu Âu và Thế giới sau 28 năm tồn tại; đó là ngày Lịch sử, ngày Vui lớn 9-11-1989, được coi là Ngày có ý nghĩa Lịch sử đặc biệt trong Thế kỷ XX.
Theo báo chí Pháp, từ đầu năm 2009 đến nay, chưa có bộ phim nào được đông đảo người xem vô tuyến ở Pháp nao nức chờ đón và thưởng thức đông đảo như vậy.
Cho đến nay, đĩa DVD của bộ phim được phát hành trên internet và các hiệu sách toàn nước Pháp được bán rất chạy.
Đây là tác phẩm đặc sắc, quý giá của Patrick Rotman, 58 tuổi, nhà nghiên cứu lịch sử, Tiến sỹ sử học, cũng là nhà sưu tầm tư liệu lịch sử nổi tiếng, đồng thời là nhà làm phim thời sự chuyên nghiệp, có nhiều giải thưởng trong nước và quốc tế.
Tác giả đã để ra 18 tháng sưu tầm tài liệu về bức tường Berlin; lịch sử hình thành, tác động và quá trình tan vỡ của bức tường ấy, qua các kho tư liệu, qua các chính khách và dân thường ở Berlin, Moscow, Paris, London, Washington cũng như ở Roma, Warsava, Budapest, Praha, Bucarest … và nhiều nơi khác. Ông cho biết điều khó nhất là tuyển chọn từ vô vàn tư liệu, đoạn phim dài hàng trăm giờ, gạn lọc, chắp nối, thuyết minh thành một bộ phim phong phú, xúc tích hơn 2 tiếng.
Ông sinh ra trong một gia đình kháng chiến chống phát xít Đức. Bố mẹ ông từng dựng lên một bệnh viện dã chiến trong rừng phục vụ các chiến sĩ du kích chống Đức.
Ông nổi tiếng từ khi làm bộ phim về cuộc chiến tranh Algiérie, sau đó là bộ phim “68″, nói về những sự kiện chính trị – xã hội sục sôi năm 1968 trên đất Pháp…Gần đây ông làm bộ phim khắc họa 2 chính khách Pháp đương đại là tổng thống Jacques Chirac và thủ tướng Lionel Jospin.
Bộ phim “Một bức tường ở Berlin” cho người xem hiểu rõ bối cảnh lịch sử tạo nên bức tường này, kết thúc thế chiến 2, các hội nghị quốc tế chia đôi châu Âu, chia đôi nước Đức, chia đôi Berlin; gần 4 triệu người Đông Đức, Đông Âu bỏ phiếu bằng chân sang phía Tây đi tìm tự do, tạo nên tai họa chảy máu “chất xám” ở phía Đông. Những ngày cực kỳ căng thẳng đầu tháng 8-1961 khi phe Cộng sản do Liên xô quyết định dựng bức tường dài hơn 150 km, khi quân lính và xe tăng dàn trận đối địch; nguy cơ chạm trán “tự sát nguyên tử” trong gang tấc; quá trình 28 năm củng cố, kiện toàn bức tường, với 4 thế hệ phòng thủ, từ giây thép gai, tường gạch, đến tường đá, xi măng cốt thép rồi đến điện hóa, điện tử hóa, chiếu sáng hóa, báo động hoá, vĩnh cửu hóa, với hệ thống tháp canh, hỏa điểm, trận địa súng máy, cối, đại bác, súng phun lửa; hàng vạn quân lính, cảnh sát, mật vụ dày đặc, với hàng nghìn chó được huấn luyện kỹ, xe bọc thép, xe tăng ngày đêm tuần tra, được lệnh bắn mọi người vượt tường, kể cả phụ nữ và trẻ em …
Bộ phim đi vào chiều sâu cho biết bức tường từng ngăn đôi 193 đường phố của 2 thành phố Berlin và Postdam, ngăn đôi nhiều thôn xã, hàng xóm, gia đình, dòng họ, cha mẹ với con cái, ông bà với cháu chắt, chia rẽ lứa đôi, bè bạn, đồng học, thày trò… Bộ phim tố cáo hơn 1.100 người đã bị bắn chết khi định vượt tường, trong đó có cả phụ nữ, cụ già và em bé …, có hơn 75 ngàn người bị tù giam vì có ý định và hành động vượt tường, đi tìm tự do.
Các nhân vật của 2 bên liên quan đến bức tường đều được nhắc đến. Từ lời dọa hung hăng của N. Khoushtchev, đến lưỡi huênh hoang của Honecker rằng bức tường sẽ tồn tại trăm năm(!); rồi đến tổng thống Kennedy tự nhận là công dân Berlin, tổng thống Reagan kêu gọi ông Gorbachev “hãy phá đổ bức tường này đi!” – tear down this wall !. Bộ phim nhắc đến Lech Walesa đã lập nên tổ chức Công đoàn Đoàn kết đi đầu đục vỡ một mảng tường thành cộng sản toàn trị ở Đông Âu, đến nhà trí thức V. Havel từng sớm nhận định từ đầu những năm 70 rằng bức tường Berlin đang đổ vỡ từng giờ, từng giờ một, đến Giáo hoàng Jean Paul 2, người đã kiên định đòi tự do tôn giáo, tự do công dân cho quê hương Ngài, cho toàn châu Âu và Thế giới.
Bộ phim cũng nhắc đến thái độ mạnh mẽ dứt khoát ngay sau khi bức tường đổ sập của 2 ông Helmut Kohn và Gorbachev cũng như của ông Mitterand trước khát vọng tự do và thống nhất nước Đức, do đó đã tạo thuận lợi cho bức tường Berlin sụp đổ trong an bình, không có một tiếng súng, tiếng bom và nước Đức thống nhất gọn gàng sau đó qua lá phiếu tự do của toàn dân, xác định chỗ đứng vinh dự cường quốc kinh tế và chính trị của mình trong châu Âu thống nhất.
Bộ phim có những đoạn trong phần kết thúc rất cảm động, ghi lại những cuộc nổi dậy của 70.000 công dân Leipzig ngày 9-10-1989, cầm hoa, thắp nến, tuần hành, thét lớn trước quân lính, cảnh sát và xe tăng đã được lệnh nổ súng: ” chúng tôi là nhân dân! “, ” không bắn vào nhân dân!” [xin nhớ 4 tháng trước đó cuộc tàn sát Thiên An Môn đã diễn ra đẫm máu trí thức và sinh viên đòi tự do]. Và rồi các cô gái tặng hoa, ôm hôn các chiến sỹ chúi mũi súng xuống đất, xe tăng quay về doanh trại. Ngay sau đó biểu tình hoà bình đòi tự do lan rất nhanh đến Plauen, Dresden, Berlin, Postdam … đẩy bộ chính trị đảng CS vào thế bị động, dẫn đến thủ lãnh CS Honecker từ nhiệm vì lý do sức khoẻ (!) (để lãnh án tử hình sau đó), và những kẻ kế thừa đành phải lùi bước, dẫn đến cuộc họp báo của Sabrowski – kẻ nắm quyền lực cuối cùng – ấp úng tuyên bố: “từ nay, các công dân có thể tự do sang phía bên kia “. Một nhà báo liền hỏi vặn ông ta :” bắt đầu thực hiện từ bao giờ? ” . Ông ta lúng túng một hồi, rồi đành phải nói: ” Ngay từ lúc này ” (tối 9-11-1989) .
Thế là xong. Cuộc họp báo tan. Trời đã tối. Mọi người đổ xô ra bức tường. Vẫn còn có nơi quân lính chưa nhận lệnh trên bắt mọi người phải có giấy phép, có visa trên hộ chiếu để đóng dấu. Rồi trên đài truyền thanh truyền đi tin chính thức. Thế là xe ô tô nối đuôi nhau, bóp còi chia vui, mọi người công kênh vượt tường, chụp ảnh ca hát… Bà con bên Tây nhào ra chào đón, mời vào nhà, chia vui thâu đêm suốt sáng. Cả 2 bên nhân dân cầm búa, xà beng, gậy sắt phá vỡ từng mảng tường, chụp ảnh, ca hát. Từ đó từng mảng tường có giá, thành vật lưu niệm quý hiếm, được phục hồi và đấu giá ngày nay, vào dịp kỷ niệm 30 năm …
Làm sao bộ phim này về nhanh được Hà Nội, Sài Gòn, Hải Phòng, Huế….và tràn về cả nước Việt Nam ta ! Tôi suy nghĩ và mong mỏi như thế suốt cả đêm thứ ba 3-11 vừa rồi, sau khi thao thức với bộ phim ” Có một bức tường ở Berlin “.
Mong các mạng internet sẽ truyền về sớm bộ phim này, và cả những nội dung kỷ niệm tại chỗ ở Berlin trong những ngày kỷ niệm tới.
DVD về bộ phim này là quà quý, cực quý lúc này cho quê hương ta.
Tự do là cần, là quý, như dưỡng khí, như cơm ăn, như nước uống. Trông người lại nghĩ đến ta, phải không các bạn.
Cám ơn nhà làm phim Patrick Rotman. Nhắn Patrick một lời tâm sự : có một bức tường ô nhục ở phương Đông, bức tường CS toàn trị – cũng đang vỡ từng mảng đó!
Nó đã thuộc về quá khứ, như bức tường Berlin, nhưng quá khứ không chịu ra đi!
Bộ phim “Một bức tường ở Berlin” sẽ có tác dụng thúc đẩy lịch sử đi tới.
Paris, 6-11-2009.
Bài do tác giả gửi đăng
Nhìn lại 20 năm
6 November, 2009 at 9:36 am | In Uncategorized | Leave a CommentLý Thái Hùng
Gửi cho BBCVietnamese.com từ Hoa Kỳ
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/world/2009/11/091104_berlin_wall_ly_thai_hung.shtml
Theo tác giả, tường Bá Linh sụp đổ trực tiếp giúp cho ‘cơn bão dân chủ’ toàn Đông Âu.
Cách đây 20 năm, khát vọng tự do dân chủ của người dân Ba Lan và Hungary đã tạo thành cơn bão dân chủ – qua những cuộc đình công, biểu tình từ hàng chục ngàn người rồi lên đến hàng trăm ngàn người, diễn ra liên tục từ cuối năm 1988 – đã làm tê liệt toàn bộ xã hội, đẩy các chế độ Cộng sản tại đây rơi vào thế tiến thoái lưỡng nan và tan rã quyền lực vào giữa năm 1989.
Nếu như cơn bão dân chủ này chỉ dừng lại ở hai quốc gia nói trên và không thổi đến Đông Đức – đẩy sập bức tường Bá Linh vào ngày 9 tháng 11 năm 1989 – có lẽ đã không tạo ra hai biến chuyển ngoạn mục của hậu bán thế kỷ 20. Đó là sự sụp đổ của khối cộng sản quốc tế Liên Xô và sự chấm dứt chiến tranh lạnh vào năm 1991.
Lúc đó, tuy các biến cố chính trị xảy ra dồn dập ở Ba Lan và Hungary; nhưng ít ai nghĩ là toàn thể Đông Âu sụp đổ mau lẹ như vậy, khi mà chính quyền Honecker của Đông Đức còn mạnh và cương quyết không áp dụng chính sách tái phối trí hay cải tổ của Liên Xô.
Nhưng khi ông Gorbachev khuyến cáo ông Honecker phải thay đổi đường lối và sau khi 17 ngàn người dân Đông Đức chạy trốn qua Tây Đức vào cuối tháng 9 năm 1989, tình hình Đông Đức đã đột biến, khiến cho chính quyền Honecker không còn có thể kiểm soát tình hình.
Chính sự phá đổ bức tường Bá Linh đã dẹp hết tất cả mọi chướng ngại, giúp cho cơn bão dân chủ đổ ập lên toàn thể Đông Âu.
Sau năm 1989, cơn bão dân chủ Đông Âu còn gợi lên một sự hưng phấn cho người dân ở một số quốc gia độc tài khác, lần lượt đứng lên đòi tự do dân chủ, tạo thành những cuộc cách mạng Màu tại Cộng hòa Serb (2000), Cộng hòa Georgia (2003), Cộng hòa Ukraine (2004), Cộng hòa Kyrgystane (2005) và Lebanon (2005).
Diễn tiến đưa đến những cuộc cách mạng nói trên hoàn toàn khác nhau. Chính những khác biệt về lịch sử, văn hóa, phong thổ, trình độ kinh tế và nhất là ý thức cải tổ chính trị của thành phần lãnh đạo tại các quốc gia, đã làm cho cuộc cách mạng ở mỗi nước có những nét đặc thù riêng.
Căn nguyên
Người dân Đông Đức trong ngày tường Bá Linh sụp đổ
Tuy nhiên, nhìn vào bản chất của các biến động chính trị tại Đông Âu vào lúc đó, người ta thấy hầu hết xuất phát từ bốn căn nguyên:
Thứ nhất là do những bất đồng quan điểm trong các chính sách cải tổ đã dẫn đến tình trạng phân liệt trong hàng ngũ lãnh đạo, khiến cho hầu hết các đảng Cộng sản đều lúng túng đối phó, trước những đòi hỏi cải cách chính đáng của quần chúng và của các khuynh hướng đối lập.
Thứ hai là sự bất mãn của người dân đã biểu hiện thành những phản kháng, dẫn đến tình trạng bất phục tùng dân sự với sự xuất hiện nhiều tổ chức ngoài luồng, những tổ chức đối lập đã khiến cho các cơ quan, đoàn thể của chế độ độc tài không còn khả năng kiểm soát người dân.
Thứ ba là tình trạng cải cách nửa vời đã tạo ra những bất ổn xã hội, dẫn đến những biến động chính trị với sự bùng phát những chống đối của quần chúng ngày một lan rộng và xuất hiện đa diện trên toàn quốc, vượt ra ngoài khả năng ứng phó của các lực lượng bảo vệ chế độ, từng bước làm tê liệt mọi sinh hoạt quốc gia.
Khát vọng tự do dân chủ đã phục sẵn trong lòng tất cả những con người sống dưới những thể chế độc tài
Thứ tư là những áp lực của quốc tế trên mặt nhân quyền, tự do dân chủ lên các chính quyền cộng sản trong tiến trình mở rộng giao thương buôn bán, đã phần nào làm chùn bước những đòn khủng bố của đảng cầm quyền, đồng thời gián tiếp hỗ trợ sức phản kháng của các cá nhân hay các tổ chức đối kháng.
Ngoài bốn căn nguyên nói trên, điều mà ai cũng thấy rõ là nền tảng đưa đến sự thắng lợi của cuộc cách mạng dân chủ tại Đông Âu vào năm 1989 và tại các cuộc cách mạng Màu vào đầu thế kỷ 21, đến từ hai điểm quan trọng:
Một là khát vọng tự do dân chủ đã phục sẵn trong lòng tất cả những con người sống dưới những thể chế độc tài. Chính khát vọng này đã thôi thúc mọi người xuống đường và chấp nhận những đòn trấn áp của nhà cầm quyền để từng bước mở rộng vòng liên kết với nhau.
Hai là phương thức đấu tranh bất bạo động đã được các phong trào dân chủ ở mọi quốc gia sử dụng để đối đầu với bạo lực.
Năm nguyên tắc căn bản của đấu tranh bất bạo động gồm: mọi hành động đều phải công khai; mọi tụ tập phải quy tụ số đông;
Luôn luôn duy trì kỷ luật để tránh hiên tượng xé rào; sẵn sàng chấp nhận đối thoại với chính quyền nhưng không bao giờ nhượng bộ mục tiêu đòi hỏi và kiên quyết tranh đấu đến cùng.
Câu hỏi
Trung Quốc vẫn duy trì kiểm soát về chính trị
Câu hỏi đặt ra là tại sao các chế độ Cộng sản tại Á Châu, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc vẫn còn tồn tại trong 20 năm qua, kể từ từ khi biến cố Đông Âu xảy ra?
Đông Âu và Á Châu rất khác nhau về lịch sử, phong thổ, văn hóa và con người. Hầu hết các quốc gia cựu cộng sản tại Đông Âu đều là những nước đã ít nhiều trải qua các cuôc cách mạng kỹ nghệ và bị Liên Xô áp đặt chủ nghĩa cộng sản từ sau Thế chiến thứ Hai.
Trong khi đó, Trung Quốc và Việt Nam là hai nước nông nghiệp lạc hậu, sinh hoạt xã hội còn đậm nét phong kiến và chủ nghĩa cộng sản đi vào hai nước này do một số người Trung Quốc, Việt Nam cuồng tín đem áp đặt lên toàn xã hội. Vì thế mà khi Đông Âu bùng dậy, đa số người dân Việt Nam và Trung Quốc không mấy quan tâm về biến động này.
Rất có thể những vết loang biến thái thành những phong trào đối kháng như những gì từng chứng kiến tại Đông Âu cách đây 20 năm
Hai mươi năm qua, Việt Nam và Trung Quốc đã mở cửa kinh tế và xã hội, có rất nhiều thay đổi. Nhà cầm quyền Trung Quốc và Việt Nam đã nghiên cứu và rút tỉa rất nhiều bài học từ biến cố Đông Âu, nhất là cố gắng ‘giữ kín’ những xung khắc ở thượng tầng để giữ bộ mặt “thống nhất” giả tạo trong hàng ngũ lãnh đạo.
Không những thế, nhờ đổi mới đi theo công thức kinh tế thị trường của phương Tây, Việt Nam và Trung Quốc đã thành công trong việc thu hút đầu tư ngoại quốc, đẩy lùi các áp lực suy thoái kinh tế và phần nào đã nâng cao mức sống của người dân so với 20 năm trước đây.
Xã hội Việt Nam và Trung Quốc hiện có mức phát triển không thua kém gì so với các xã hội Đông Âu khi đó.
Tuy nhiên, những nan đề mà Trung Quốc và Việt Nam đang dối diện như chênh lệch giàu nghèo, ô nhiễm môi trường, tham ô nhũng lạm, giáo dục suy thoái… không khác gì mấy so với các nan đề mà các nước Đông Âu đã đối phó và thất bại 20 năm trước.
Sóng ngầm
Giáo dân hiệp thông trong vụ Tam Tòa
Nói cách khác, nếu vào thời điểm đó, xã hội Việt Nam và Trung Quốc hoàn toàn bất động trước cơn bão dân chủ thổi mạnh mẽ đến Đông Âu, thì nay, những đợt sóng ngầm của trào lưu dân chủ hóa đang chuyển động trong xã hội Việt Nam và Trung Quốc.
Người ta có thể không đồng ý rằng những gì đã xảy ra ở Đông Âu sẽ lặp lại tại Việt Nam hay Trung Quốc; nhưng chắc chắn một điều là khát vọng tự do dân chủ của người Việt Nam, Trung Quốc không thua kém Đông Âu.
Và đấu tranh bất bạo động đã trở thành phương thức đối kháng hữu hiệu đáng được các lực lượng dân chủ tại Việt Nam và Trung Quốc áp dụng và phổ biến rộng rãi trong nhiều năm qua.
Chính hai yếu tố này đang góp phần tạo ra những động thái chính trị tại Việt Nam và Trung Quốc trong vài năm trở lại đây.
Riêng tại Việt Nam, những biến cố gần đây như Nhà Chung, Thái Hà, Tam Tòa, Bát Nhã tại Lâm Đồng, một số trí thức tự giải thể Viện Nghiên Cứu Phát Triển (IDS) để phản đối Quyết Định 97; hơn 4 ngàn trí thức, sinh viên, văn nghệ sĩ ký tên vào Kiến nghị chống khai thác Bauxite tại Tây Nguyên, Luật sự Cù Huy Hà Vũ kiện Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng về quyết định cho khai thác Bauxite v.v… đã là những diễn biến đang làm cho nhà cầm quyền Việt Nam lúng túng.
Điều mà ai cũng thấy rõ là nhà cầm quyền Việt Nam đã không giải quyết nổi, nên những biến cố nói trên chắc chắn sẽ lập lại như vết dầu loang ở nhiều nơi.
Và kinh nghiệm cho thấy là rất có thể những vết loang này sẽ biến thái thành những phong trào đối kháng như loài người đã từng chứng kiến những biến động dây chuyền từ nhỏ lên lớn tại Đông Âu cách đây 20 năm.
Ông Lý Thái Hùng là Tổng Bí thư đảng Việt Tân, trụ sở tại San Jose, Hoa Kỳ. Ông cũng là tác giả tập biên khảo “Đông Âu Tại Việt Nam,” tổng kết sự kiện sụp đổ của các quốc gia cộng sản tại Đông Âu năm 1989. Bài viết phản ánh quan điểm riêng của tác giả.
Chúi đầu vào đống cát để khỏi nhìn thấy bế tắc
5 November, 2009 at 9:10 am | In Uncategorized | Leave a CommentThông Luận
Trong tháng 10 vừa qua hai cuộc họp đáng lẽ rất quan trọng đã diễn ra một cách rất nghịch lý mà hầu như không ai để ý: Hội nghị Trung Ương của đảng CSVN và khoá họp thường lệ của Quốc hội.
Hội nghị Trung ương 11, khoá 10, của ĐCSVN diễn ra trong một thời điểm nghiêm trọng: chuẩn bị đại hội 11 vào giữa lúc mô thức kinh tế sao chép của Trung Quốc phải xét lại toàn bộ, sinh hoạt kinh tế xã hội bế tắc, nhiều vấn đề nghiêm trọng trì hoãn quá lâu đã đến lúc phải giải quyết. Thêm vào đó đảng hoàn toàn thiếu vắng những khuôn mặt lãnh đạo chấp nhận được cho đa số đảng viên, chưa nói tới lãnh đạo đất nước. Tuy vậy nó đã rất âm thầm, không có gì được thông báo cả ngoại trừ hai bài diễn văn khai mạc và bế mạc của tổng bí thư Nông Đức Mạnh và một bản thông báo hết thúc hội nghị.
Cả ba văn kiện này đều không nói gì cả, chúng đều là những tài liệu rỗng. Tuy vậy chúng vẫn tố giác sự bế tắc tuyệt vọng. Tổng bí thư Nông Đức Mạnh nói: “phải đánh giá đúng thành tựu, yếu kém, thực chất tình hình tư tưởng trong Đảng” và “đề nghị các đồng chí phát huy tinh thần dân chủ, suy nghĩ độc lập và sáng tạo“. Như thế có nghĩa là tư tưởng chính trị của đảng CS đang ở trong tình trạng rất bi đát đòi hỏi phải được xét lại triệt để. Nhưng ngay sau đó ông lại nhấn mạnh “phải kiên định chủ nghĩa xã hội; kiên định chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định vai trò lãnh đạo của Ðảng“. Vậy thì xét lại cái gì? Suy nghĩ độc lập, sáng tạo ở chỗ nào? Những lời tuyên bố ngớ ngẩn một cách khôi hài như vậy của người lãnh đạo cao nhất ngay giữa một hội nghị trung ương đảng là một thú nhận hùng hồn rằng đảng cộng sản biết mình bế tắc nhưng không nhìn thấy giải pháp nào khác ngoài tiếp tục chúi đầu vào đống cát để khỏi nhìn thấy sự thực. Chúng đã không làm ai phì cười, vì không ai, kể cả đại đa số các đảng viên cộng sản, còn để ý đến những gì đến những gì mà lãnh đạo đảng nói và làm.
Điều 83 của Hiến Pháp Nước Cộng Hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam
Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp.
Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân.
Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước.
Kỳ họp quốc hội thứ 6, khoá 12, là một mẫu mực của sự vô duyên nhàm chán. Báo chí đưa tin đại biểu này kiến nghị, đại biểu kia đề nghị v.v. Nhất là “uỷ ban tài chính quốc hội dứt khoát đề nghị” giảm tỉ lệ bội chi ngân sách nhưng buổi họp đã “kết thúc sớm” sau khi ông bộ trưởng tài chính tuyên bố chính phủ vẫn bảo lưu ý kiến. Những sự kiện này chẳng ai để ý dù chúng rất kỳ cục: quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất, có quyền quyết định ngân sách, có cả quyền bổ nhiệm và bãi nhiệm chính phủ mà lại chỉ dám đề nghị và kiến nghị với chính phủ, và thôi họp khi chính phủ cho biết đã quyết định xong.
Người ta không để ý là đúng vì còn có những điều trâng tráo hơn nhiều. Khoá họp quốc hội này mở ra chỉ 11 ngày sau bốn vụ án chính trị thô bỉ trong đó chín công dân vô tội bị xử những án tù nặng một cách dã man chỉ vì treo những biểu ngữ kêu gọi bảo vệ sự vẹn toàn của lãnh thổ, chống tham nhũng và thực hiện dân chủ, những lập trường mà chính nhà nước cộng sản cũng đã nhiều lần phát biểu. Đây là một hành động chà đạp trắng trợn lên chính luật pháp và một sự thoá mạ đối với chính quốc hội, định chế trên danh nghĩa làm ra và bảo vệ luật pháp. Tuy vậy quốc hội đã không hề có phản ứng nào và cũng không hề có bất cứ một “đại biểu quốc hội” nào lên tiếng.
Không còn ai ngạc nhiên, dù để nổi giận hay phì cười, trước những sự kiện vô lý một cách khôi hài như vậy vì một lý do giản dị: sự ly dị giữa dân chúng và chính quyền đã toàn diện và tuyệt đối.
Các chính quyền bạo ngược đều giống nhau ở một điểm là chúng yên tâm khi người dân thờ ơ mà không cần biết rằng sự thờ ơ đó che giấu một căm thù đang sôi sục. Chúng đều đánh giá thấp nhân dân. Chúng cũng giống nhau ở một điểm khác là không hối tiếc sau đó, vì không kịp hối tiếc.
Nguồn: www.thongluan.org
Trí thức bất khuất trước bạo quyền
4 November, 2009 at 10:54 am | In Bình luận: Ngô Nhân Dụng | Leave a CommentNgô Nhân Dụng
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=103431&z=7
Ðời nay nói đến Hy Lạp người ta có thể không biết đến Vua Dionysius, nhưng phần lớn người có học đều biết các triết gia Socrate, Platon, Pericles, biết các nhà khoa học Euclide hay Archimede! Vua Dionysius I ngự trị ở thành Syracuse (ở phía Nam đảo Sicily bây giờ) vào thế kỷ thứ tư trước Công nguyên. Ngày nay người ta còn nhắc đến ông không phải vì những cuộc chinh phạt, những chiến công, mà vì ông đã thất bại khi muốn đàn áp giới trí thức đương thời.
Sử chép về Vua Dionysus I có những chuyện liên can đến giới trí thức và văn nghệ. Những người nghiên cứu khoa học, triết lý hoặc viết văn, làm báo thời nay nếu phải sống dưới các chế độ độc tài thường vẫn chịu sức ép phải uốn cong ngòi bút theo lệnh các “lãnh tụ anh minh.” Rất nhiều người can đảm chống lại, nhưng đa số thì chịu thua, vì miếng cơm manh áo; vả lại họ không biết chọn nghề nào khác kiếm ăn. Vua Dionysius I cũng là một người sính làm thơ, không khác gì các ông Mao Trạch Ðông, Hồ Chí Minh thời họ nắm quyền sinh sát. Một hôm Dionysius đưa cho thi sĩ Philoxenus coi một tác phẩm mới của ông để chia sẻ.
Philoxenus lại mang tánh hay nói thật; ông nói thẳng, chê là thơ của nhà vua chẳng ra ngô ra khoai gì cả. Nhà thơ thành thật khuyên nhà vua đừng bao giờ làm thơ nữa. Giận quá, Dionysius ra lệnh bắt giam Philoxenus, cho đi lao động cải tạo ở một công trường khai thác đá. Chắc ở đó toàn những đá thì nhà thơ có dịp dùi mài khả năng phê bình thơ vua.
Ngày hôm sau, Dionysius lại mời Philoxenus vào hoàng cung dự tiệc để coi nhà thơ đã được cải tạo tư tưởng hay chưa. Tiệc chiêu đãi văn nghệ sĩ tất nhiên là vui lắm, đại khái quý vị có thể tưởng tượng được, đủ các thứ sơn hào hải vị, có văn công giúp vui, vũ nữ ra múa may, chắc cũng tổ chức cả thi hoa hậu nữa! Sau khi đã uống rượu khá nhiều, thi hứng của nhà vua lại nổi lên, không cách nào cản được. Ông đứng dậy ngâm một bài thơ mới sáng tác. Ðọc thơ xong, vua Dionysius quay lại nhìn thi sĩ Philoxenus, hỏi: “Sao, ông thấy bài thơ mới thế nào?” Philoxenus đứng dậy nghiêng mình, cúi chào ông vua để tỏ vẻ kính trọng. Rồi ông lững thững đi ra bảo tên lính đeo gươm hầu phụ trách an ninh: “Chú làm ơn đưa tôi trở về hầm đá!”
Tại Việt Nam ngày nay, hôm 14 Tháng Chín năm 2009, Viện Nghiên Cứu Phát Triển (IDS), một viện nghiên cứu độc lập gồm các trí thức hàng đầu Việt Nam, đã tự động giải thể để phản đối Quyết Ðịnh 97 của chính phủ Nguyễn Tấn Dũng. Hành động đó cũng giống như việc Philoxenus từ bỏ bữa tiệc của vua Dionysus để trở về làm công tác đập đá!
Những người trí thức tự trọng không thể chấp nhận việc kiểm soát tư tưởng. Nhất là người làm công việc nghiên cứu khoa học. Mục đích của khoa học là đi tìm sự thật, những sự thật khách quan, độc lập đối với tín ngưỡng và chính trị. Quyết Ðịnh 97 buộc các bài phản biện của giới khoa học phải trình cho các cơ quan nhà nước trước khi công bố. Ðây là một hành động phản khoa học, phản dân chủ, vì chính quyền cộng sản không cho phép người trí thức được phép nghiên cứu độc lập. Cấm việc nghiên cứu độc lập và khách quan là phản tiến bộ, đặc biệt trong các đề tài liên can đến phát triển kinh tế và xã hội rất cần thiết cho đất nước bây giờ.
Người trí thức muốn nói thật thì rất khó sống dưới ách độc tài, dù là chế độ quân chủ chuyên chế ngày xưa hay là chế độc đảng chuyên chính vô sản và vô học thời nay.
Một tháng sau, ngày 14 Tháng Mười, chính phủ Nguyễn Tấn Dũng lại ra một thông báo kết luận rằng việc ban hành Quyết Ðịnh 97 “là cần thiết, phù hợp với Hiến Pháp, pháp luật Việt Nam.” Không những thế, bản thông báo đe dọa giao Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Hà Nội “xử lý những phát biểu thiếu tinh thần xây dựng của một số cá nhân thuộc Viện Nghiên Cứu Phát Triển.” Coi như các nhà trí thức danh tiếng nhất Việt Nam bị dọa có thể được “điều đi” làm công tác nghiên cứu ở hầm đá!
Tiến Sĩ Nguyễn Quang A, nguyên viện trưởng IDS nói, “Thông báo của văn phòng chính phủ có những lời lẽ đe dọa chúng tôi” và ông vẫn tiếp tục phê phán “Quyết Ðịnh 97 vi phạm nghiêm trọng luật pháp Việt Nam!” Tuyên bố như vậy cũng không khác gì nhà thơ Philoxenus ngày xưa đã bị trừng phạt rồi vẫn tiếp tục chê thơ của ông vua không ngửi được!
Giới trí thức thời xưa và thời nay đều là kẻ thù của các chế độ độc tài. Vì nhu cầu tự nhiên nhất của họ là được tự do suy nghĩ, tự do phát biểu.
Trong Tháng Mười, chính quyền Nguyễn Tấn Dũng lại đưa nhiều nhà trí thức Việt Nam “đi hầm đá” nữa. Tổng cộng có chín người bị bắt từ năm ngoái, nay bị đưa ra tòa tại Hải Phòng với cùng một tội danh: “lưu trữ, phát tán những tài liệu vu khống chế độ, sau đó chụp hình và phát tán lên mạng Internet.” Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, 60 tuổi, bị án nặng nhất đến 6 năm tù giam và 4 năm quản chế tại gia vì “vai trò lãnh đạo.”
Cũng trong Tháng Mười tại Hà Nội, ông Phạm Văn Trội, 37 tuổi, xử 4 năm tù giam và 4 năm quản chế tại gia. Nhà văn Vũ Hùng cũng bị 3 năm tù giam và 3 năm quản chế vì vi phạm Ðiều 88. Nhà thơ Trần Ðức Hạnh, 57 tuổi, hội viên Hội Nhà Văn Nghệ An bị xử án tù giam 3 năm và 3 năm quản chế.
Những nhà trí thức ở Hy Lạp thời xưa cũng như ở Việt Nam ngày nay có thể “đứng vững không khỵu chân” để bảo vệ lương tâm và sự thật vì họ biết rằng sau cùng lịch sử sẽ ghi nhớ đến họ. Và ngay trong cuộc đời của họ, họ sống thanh thản vì được mọi người kính trọng và yêu thương. Còn những anh đóng vai độc tài chuyên chế, sau cùng lịch sử sẽ ghi tên trong sổ đen. Mà ngay khi còn sống họ cũng không được ai thành thật yêu thương hay kính trọng, trừ những kẻ nịnh thần!
Ngay xưa, Vua Dionysius bỏ tù Phintias, một triết gia phái Pythagore, sau cùng xử ông bị tử hình vì những tội “phản biện” làm hại uy tín “chính quyền của nhân dân.” Trước khi chết, Phintias xin phép được về thăm gia đình. Nhưng làm thế nào để bảo đảm là triết gia không đi trốn và sẽ trở lại thọ hình? Triết gia vốn nghèo khó, lấy vàng bạc, của cải đâu để làm vật thế chân? Một người bạn của Phintias là Damon đã tự mình xin làm “bail bond,” vào ngồi tù thế mạng, nếu Phintias trốn thì Damon sẽ chết thay. Sau khi thăm nhà rồi, Phintias lại trở vào nhà tù cho bạn mình được thả. Hành động của hai nhà trí thức làm cho ông vua Dionysius kinh ngạc ngạc. Sống giữa đám nịnh thần và chỉ quen lừa gạt, dối trá ông không thể hiểu tại sao có những người bạn hết lòng với nhau như thế! Dionysius trả tự do cho Phintias xin được kết bạn với cả hai nhà hiền triết. Không biết làm bạn được bao lâu?
Nền văn minh Hy Lạp để lại rất nhiều di sản. Ngoài những tư tưởng triết lý, khoa học, các pho tượng dựng trong các hý trường rộng lớn, còn có cả một định chế xã hội gọi là chế độ Dân Chủ. Chế độ Dân Chủ ở Hy Lạp không được tiến bộ như hình thức mà nhân loại hiện đang thi hành; nhưng phải ghi công người Hy Lạp đã đặt nên một số nền tảng chính. Dân Hy Lạp đã quên những ông vua Dionysius mà còn nhớ Pericles. Người Việt Nam cũng sẽ có ngày quên đi cái chế độ độc tài đảng trị tham nhũng thối nát, mà chỉ nhớ đến những nhà trí thức đang tranh đấu cho đồng bào được hưởng cuộc sống dân chủ tự do. Ngày nay chúng ta vẫn ghi nhớ những Phan Châu Trinh, Nguyễn An Ninh, Khái Hưng, PhanVăn Hùm, đó là một truyền thống của giới trí thức trong dân tộc Việt Nam. Dù thời bình hay thời chiến, “nhưng hào kiệt đời nào cũng có”.
Tuyên Dương Vedan: Cá Tháng 10 Tại Việt Nam?
3 November, 2009 at 11:03 am | In Diễn Đàn Dân Chủ | Leave a CommentTrung Điền

http://viettan.org/spip.php?article9160
Trong danh sách tuyên dương “100 sản phẩm an toàn vì sức khoẻ cộng đồng năm 2009”, Cộng sản Việt Nam đã vinh danh 3 sản phẩm của công ty Vedan, một công ty liên doanh của người Đài Loan đã từng thải hóa chất bừa bãi ra sông Thị Vải gây ô nhiễm và đe dọa môi trường sống cho hàng triệu người thuộc ba tỉnh Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Sài Gòn trong các năm vừa qua. Khi tin tức nói trên được loan tải trên báo chí, mọi người tưởng là chuyện đùa vì cho đến nay công ty Vedan vẫn từ chối bồi thường thiệt hại cho nông dân ba tỉnh lên đến 600 tỷ đồng, tương đương 34 triệu Mỹ Kim.
Công ty Vedan chuyên sản xuất bột ngọt và tinh chế bột, thức ăn gia súc, phân bón v.v… được thành lập vào năm 1991 tại xã Phước Thái, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Đến năm 1994, ngay sau khi đi vào hoạt động chính thức, công ty đã thải chất cặn bã gây ô nhiễm môi trường sông Thị Vải làm thuỷ sản chết hàng loạt. Cộng sản Việt Nam đã yêu cầu công ty Vedan ngưng hoạt động một thời gian để cải thiện ô nhiễm môi trường; nhưng chỉ ba tháng sau, công ty Vedan đã được phép hoạt động trở lại và tiếp tục gây ô nhiễm dòng sông Thị Vải.
Đến năm 2005, tình trạng ô nhiễm trên dòng sông Thị Vải ảnh hưởng đến việc nuôi trồng thủy sản của nông dân một cách trầm trọng; Cộng sản Việt Nam ra lệnh công ty Vedan xử lý ô nhiễm, nhưng công ty này chỉ chấp nhận bồi thường 15 tỷ đồng và tiếp tục hoạt động. Tháng 7 năm 2005, công ty Vedan bị xử phạt vi phạm hành chính 9 triệu đồng và được yêu cầu khắc phục ô nhiễm cũng như hoàn thành các công trình xử lý chất thải đạt tiêu chuẩn Việt Nam. Nhưng thay vì khắc phục ô nhiễm, công ty này đã thiết kế và lắp đặt hệ thống xả nước thải một cách tinh vi che mắt sự kiểm soát của nhà cầm quyền. Công ty Vedan đã lắp đặt hệ thống bơm nước thải sâu dưới đất dài 2,2 cây số và trụ bơm thoát nước được cắm sâu xuống sông Thị Vải đến 8 mét. Với sự che giấu này, tận dụng lúc trời tối, công ty đã xả nước thải chưa qua giai đoạn xử lý xuống sông, mỗi tháng tới 44,800 mét khối.
Sự che giấu của công ty Vedan nói trên đã bị phát hiện vào năm 2008. Cộng sản Việt Nam ra lệnh cho công ty này ngưng hoạt động, tháo gỡ toàn bộ hệ thống ống ngầm và nộp phạt vi phạm hành chính 267 triệu đồng. Cộng sản Việt Nam còn ra lệnh cho công ty Vedan bồi thường thiệt hại cho 11 ngàn đơn kiện của nông dân ba tỉnh với số tiền lên đến 600 tỷ đồng. Năm 2009, công ty Vedan tuyên bố rằng họ sẽ dời công ty sang nước khác nếu không cho tiếp tục hoạt động và không trả tiền bối thường 34 triệu Mỹ Kim theo như đề nghị của các nông dân ba tỉnh vì cho là quá cao và chỉ bồi thường ở mức 1 triệu 400 ngàn Mỹ Kim mà thôi.
Trong khi vụ án của công ty Vedan chưa ngã ngũ thì ban tổ chức giải thưởng “100 sản phẩm an toàn vì sức khoẻ cộng đồng” lại công bố công ty này có ba sản phẩm gồm Bột ngọt Vedan, Vedan hạt nêm thịt heo và tinh bột biến đổi. Được biết, những công ty muốn tham gia để được tuyên dương thì phải ký hợp đồng, hỗ trợ ban tổ chức tổng cộng 30 triệu đồng để gọi là “phục vụ công tác tổ chức, xét tặng, truyền thông và lễ tuyên dương giải thưởng”. Ban tổ chức giải thưởng này do Trung tâm tư vấn phát triển thương hiệu và chất lượng thành phố Sài Gòn chủ trì cùng với sự tham vấn của Bộ khoa học công nghiệp, Bộ y tế, Bộ công thương. Với sự liên hệ của ba bộ quan trọng trong vấn đề sản xuất các sản phẩm tiêu thụ, ban tổ chức giải thưởng có một ảnh hưởng rất lớn lên các công ty liên hệ.
Nhưng khi tin tức ba sản phẩm của công ty Vedan được tuyên dương loan tải vào chiều ngày 26 tháng 10 thì dư luận đã nổi lên làn sóng phản đối rất mạnh mẽ, khiến cho ông Ngô Quý Việt, tổng cục trưởng tổng cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng đã phải họp báo cho rằng việc trao giải thưởng cho Vedan là sai sót của ban tổ chức. Trước áp lực này, Bộ y tế cũng đã ra quyết định tạm đình chỉ công tác của ông Hoàng Thủy Tiến, cục phó cục an toàn vệ sinh thực phẩm, người đã ký vào bản tuyên dương 3 sản phẩm công ty Vedan. Bộ khoa học công nghệ thì ra chỉ thị cho ban tổ chức phải thu hồi lại giấy tuyên dương đã cấp cho công ty Vedan. Nhưng đại diện công ty Vedan phản đối cho rằng họ không trả lại giải thưởng vì khi bình chọn giải thưởng phải có những tiêu chỉ cụ thể cho từng loại sản phẩm, và bây giờ rút lại cũng phải có tiêu chỉ đàng hoàng.
Trong khi đó, đại diện cho ban tổ chức giải thưởng là ông Bùi Văn Quyền (Bộ Khoa học công nghệ) nói rằng trong đêm trao giải thưởng không có trao cho công ty Vedan và đại diện công ty Vedan chỉ lên sân khấu ủng hộ tiền cứu trợ nạn nhân bão lụt miền Trung. Bà Nguyễn Thị Sinh, giám đốc Trung tâm tư vấn phát triển thương hiệu và chất lượng tại Sài Gòn và cũng là Trưởng ban tổ chức giải thưởng, thì đỗ lỗi do sai sót của nhân viên đánh máy đã nhầm lẫn khi đưa danh sách đề cử và danh sách doanh nghiệp đoạt giải lên trang web. Trong khi đó, ông Yeh Sheau Yeh, giám đốc công ty Vedan thì khẳng định là họ được nhận 3 chứng chỉ tuyên dương ba sản phẩm từ ban tổ chức.
Những loay hoay giải thích và phủi tay trách nhiệm của cán bộ Cộng sản Việt Nam liên quan đến việc cấp 3 chứng chỉ tuyên dương công ty Vedan đã cho thấy ra ba điều:
Thứ nhất là con vi khuẩn coi thường dư luận của những cán bộ trách nhiệm liên quan đến những vấn đề sức khoẻ của người dân đã ở mức miễn nhiễm. Họ có thể giải thích bất cứ những lý do gì để chạy tội cho họ. Bà Nguyễn Thị Sinh, trưởng ban tổ chức giải thưởng đã phủi tay khi đổ lỗ lỗi cho người đánh máy giống như trường hợp Đào Duy Quát đã đổ lỗi cho cậu thanh niên đánh máy khi đưa bản tin ca ngợi hải quân Trung Quốc tập trận ở Hoàng sa.
Thứ hai là hệ thống tham nhũng chằng chịt trong các cơ chế. Mỗi công ty muốn tham gia vào việc bình chọn phải đóng cho ban tổ chức 30 triệu. Công ty Vedan chắc chắn đã phải đóng một số tiền gấp nhiều lần để không chỉ được ghi vào danh sách đề cử, mà còn được nhận 3 chứng chỉ chứng nhận ở phía sau hậu trường, do đại diện Bộ y tế ký. Công ty Vedan đã dùng tiền để mong xóa tội lỗi của họ đối với công chúng Việt Nam qua các quan tham ở Sài Gòn.
Thứ ba là lễ trao giải thưởng diễn ra tối ngày 11 tháng 10, nhưng đến hai tuần sau mới công bố lên báo chí (26/10), cho thấy là ban tổ chức muốn đặt dư luận vào chuyện đã rồi trong sự đồng tình của cán bộ lãnh đạo các Bộ. Nghĩa là họ mua thời gian để không tạo cho dư luận quan tâm ngay vào kế hoạch “bán giải thưỏng” của ban tổ chức cho công ty Vedan. Nhưng điều mà Cộng sản Việt Nam không ngờ là sức mạnh của truyền thông ngoài luồng đã góp phần kích lên sự phẫn nộ của dư luận, khiến cho chế độ không thể làm ngơ các tội ác của ban tổ chức giải thưởng.
Tóm lại, qua vụ án Vedan cho chúng ta thấy là Cộng sản Việt Nam càng ngày càng đối diện với những phanh phui của dư luận về những sai trái của chính họ mà không còn có thể che giấu hoặc bưng bít như trước đây. Đây chính là những diễn biến mang tính “tự diễn biến” trong hệ thống độc tài mà họ đã không chịu nhìn ra, cứ đi đổ lỗi cho các thế lực thù địch bên ngoài kích động. Vụ án Vedan, như nhận xét của đại biểu quốc hội Nguyễn Đỉnh Xuân là chuyện đùa dai của chế độ, ngu xuẩn tới độ người ta tưởng Ngày Cá Tháng Tư (April Fool’s Day) đang xảy ra vào tháng 10 tại Việt Nam.
Trung Điền
Ngày 28/10/2009
Phận thằng dân trong chế độ!
1 November, 2009 at 12:00 am | In bán nguyệt san Tự do Ngôn luận | Leave a CommentPhận thằng dân trong chế độ!
Xã luận bán nguyệt san Tự do Ngôn luận số 86 (01-11-2009)
Thi hào Nguyễn Chí Thiện từng có bài thơ «Lý tưởng» như sau : «Lý tưởng, quang vinh, mộng tình, lẽ sống. Chuyện trên trời dưới biển xa xôi! Thú thực là dân đói chúng tôi. Chỉ mơ ước được no bằng con vật. Vì giấc mơ được làm con người đã mênh mông, không thành sự thật. Lại rũ tù cả lũ như chơi! Gạo, sắn, ngô, khoai, tứ chướng trên đời. Quấn chặt, rối bời, điêu đứng!» Được sáng tác năm 1971, bài thơ nay vẫn còn đậm tính thời sự. Vì còn hàng triệu nông dân Việt Nam trồng ra lúa gạo nhưng vẫn bần cùng ; hàng triệu công nhân làm ra sản phẩm nhưng vẫn thường xuyên ăn đói, chỉ mơ ước no bằng con vật nuôi trong nhà cán bộ. Nhưng nhất là giấc mơ được làm con người đối với tuyệt đại đa số dân Việt vẫn cứ mênh mông, không thành sự thật nổi. Bởi lẽ cho đến giờ phút này, thằng dân trong chế độ ưu việt này vẫn cứ phải mang thân phận con cái, con ở, con nợ, và con bài. Xin nêu những thí dụ gần đây :
1- Con cái : Khi tự mình viết cuốn «Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ chủ tịch» năm 1948, Hồ Chí Minh (dưới bút hiệu Trần Dân Tiên) đã tự xưng là Bác và là Cha già Dân tộc. Theo tinh thần này, đảng của ông ta luôn tự đặt mình làm «phụ mẫu chi dân» và coi nhân dân như con cái : cha mẹ cho gì thì nhờ nấy, không được đòi hỏi (cơ chế «Xin-Cho»); phán bảo sao thì nghe nấy, không được phê bình ; sửa trị sao thì chịu nấy, không được cãi lại. «Đảng là chân lý, là đạo đức, văn minh», «Nghe theo đảng, nói theo đài» là thứ «Gia huấn ca» mới mà CS buộc nhân dân phải học thuộc. Chính hai đại diện cỡ bự của đảng đã từng khẳng định điều ấy. Đó là Nguyễn Thị Hồng Ngát, cục trưởng cục điện ảnh : «Con cái không chê cha mẹ khó…» (trả lời phóng viên đài truyền hình ABC năm 2003), và Tôn Nữ Thị Ninh, nguyên Đại sứ Đặc mệnh Toàn quyền của VN tại Châu Âu : “Trong gia đình chúng tôi có những đứa con, cháu hỗn láo, bướng bỉnh thì để chúng tôi đóng cửa lại trừng trị chúng nó, dĩ nhiên là trừng trị theo cách của chúng tôi. Các anh hàng xóm đừng có mà gõ cửa đòi xen vào chuyện riêng của gia đình chúng tôi” (tuyên bố tại Câu lạc bộ Báo chí Quốc gia Hoa Kỳ tháng 10-2004, khi bị chất vấn về tình trạng vi phạm nhân quyền ở VN). Chính vì não trạng «đảng cha mẹ-dân con cái» như thế mà trong thời gian gần đây, cộng đồng hay chức sắc tôn giáo nào xin đất thì được cho, đòi đất thì bị đánh ; tập thể công dân nào âm thầm góp ý cho đảng thì ổn, nhưng muốn công khai phản biện thì bị bịt mồm (Quyết định 97-CP) ; tự giải thể để phản đối quyết định cha chú đó như Viện Nghiên cứu Phát triển thì sẽ bị xử lý không nương tay (Thông báo số 309/TB-VPCP) ; dám cãi lời «cha mẹ» mà động đến gia đình «bác Mao» thì lãnh những án tù dài ; đâm đơn kiện «bố» Thủ tướng thì bị trả đơn lui, còn được bảo là «gia pháp» không có quy định !!!
2- Con ở : Được coi là con cái khi đảng có việc cần sửa dạy, toàn dân lại bị xem là con ở khi đảng có việc cần đối xử, đối xử một cách vô nghĩa vô tình. Điển hình là thái độ im lặng của Hà Nội từ năm 2005 đến nay trước việc ngư dân bị Trung Cộng sách nhiễu, chặn đường, cướp bóc, bắn chết trên Nam Hải (việc lên tiếng gần đây của bộ ngoại giao CSVN, một tháng sau vụ đồng bào Quảng Ngãi bị cướp tài sản khi trú bão hôm 30-09, chỉ là hãn hữu, do sức ép của dư luận và chỉ đòi bồi thường thiệt hại chứ không dám nhân cơ hội khẳng định chủ quyền Hoàng Sa). Đang khi đó, theo tờ Quân đội Nhân dân, hôm 14-10, lúc nghe hai tàu đánh cá Trung Cộng bị bão đánh chìm ở khu vực gần đảo Bạch Long Vĩ, bộ tư lệnh Hải quân VN đã lập tức điều động 4 tàu tích cực tham gia tìm kiếm.
Các công nhân đi lao động nước ngoài tại Đài Loan, Malaysia, Jordan…, khi bị giới chủ nhân bản địa bóc lột, lừa gạt, chạy đến đại sứ quán hay lãnh sự quán VN kêu cứu thì bị làm ngơ, thậm chí bị hăm dọa, khiến cả viên chức chính quyền sở tại cũng ngạc nhiên và cuối cùng chỉ có đồng bào hải ngoại là ra tay bênh đỡ, cứu giúp họ. Những phiên xử thường dân mấy năm gần đây cũng chứng tỏ điều đó. Như tại Long An, ba thanh niên đã bị tòa kêu án 21 năm tù giam vì trộm 22 con vịt (Tiền Phong online 26-10-2007) ; tại Lâm Đồng, 3 nông dân «ăn cướp» 2 con vịt đã bị tòa án tuyên phạt 13 năm (Pháp Luật online 10-08-2009) ; còn tại huyện Đông Anh của Hà Nội, hai thanh niên đi dự sinh nhật về đã bị công an và phó thôn cùng dân quân du kích đánh chết tại chỗ vì nghi trộm chó (VNExpress 30-05-2009)… Đang khi đó những «con yêu» của đảng -vì đảng vẫn có một thứ con yêu- thì luôn được nhẹ tay khi phải đối diện với pháp luật. Một Vũ Huy Hoàng, bộ trưởng Công thương, chủ quản trang mạng Hợp tác Kinh tế Thương mại Việt-Trung, chuyên để mặc Trung Cộng trình bày quan điểm chính trị bất lợi cho đất nước suốt nhiều năm trời, vẫn cứ bình chân như vại sau khi báo chí phanh phui vụ việc tháng 5-2009. Một Đào Duy Quát, phụ trách trang mạng của Đảng, thì chỉ phải nộp 30 triệu sau khi bị phát giác đăng bài của Trung Cộng mô tả cuộc tập trận «bảo vệ biên cương trên biển phía nam Tổ quốc” của họ là Hoàng Trường Sa. Một Huỳnh Ngọc Sĩ, quản lý dự án đại lộ Đông Tây tại Sài Gòn, dù đòi Nhật bản hối lộ gần cả triệu đô la, khi ra tòa cũng được cải tội danh «lợi dụng chức quyền» với bản án 3 năm tù nhẹ bổng. Một Đoàn Văn Kiển, Tổng giám đốc Tập đoàn Than-Khoáng sản VN, dù đã để cho gần 10 triệu tấn than Quảng Ninh bị xuất lậu, gây thất thu cho Nhà nước khoảng 4.500 tỷ đồng, rồi sai phạm về quản lý tiền bạc lên tới hơn 270 tỷ và gần 600.000 đôla (Tiền Phong online 03-09-2009), thế mà vẫn chỉ bị kỷ luật đảng và buộc thôi việc. Một Chu Văn Thưởng, nguyên giám đốc Sở Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn Hà Tây, dù không có bằng lái nhưng lại điều khiển xe hơi sau khi nhậu, gây tai nạn làm chết 2 hai người, vẫn chỉ bị phạt 36 tháng tù treo (Người Lao động online 22-10-2009).
3- Con nợ : Trong khoảng hơn thập niên sau biến cố 1975, để trả nợ chiến phí cho các quốc gia cộng sản Đông Âu, hàng trăm ngàn công nhân đã được đưa sang đó làm việc với đồng lương rẻ mạt, không đủ gởi về nuôi gia đình ; trong nước cũng có chính sách lùa cả triệu thanh thiếu nữ (chủ yếu miền Nam) vào các hợp tác xã thêu ren, ngày đêm cặm cụi thêu những tấm ra, mặt gối xuất cảng qua các nước ấy, với số tiền còm chỉ đủ ăn hai bữa. Còn hiện nay, hàng triệu nông dân trong nước đang sống trên nợ, nợ hợp tác xã nông nghiệp, vì lúa gạo họ làm ra không đủ để mua lại phân bón, lúa giống, nộp hàng chục thứ thuế khác và trả tiền dẫn nước vào ruộng… Học sinh cấp ba và sinh viên thì phải đóng học phí quá khả năng của gia đình nên đành phải vay mượn chính phủ, sau khi tốt nghiệp sẽ làm việc trả lại. Cả hai hạng này, một hạng đông đảo về lực lượng và một hạng có tiềm lực về tri thức, đương nhiên trở thành con nợ triền miên của nhà cầm quyền và đảng dùng chính dây thòng lọng này để khống chế họ về mặt quan điểm chính trị.
Cơ chế «Xin-cho» áp dụng vào việc cấp đất đai, cấp giấy phép xây dựng, tổ chức, xuất ngoại cũng biến người dân, đặc biệt là các tập thể tôn giáo, các lãnh đạo tinh thần thành kẻ mắc nợ ân nghĩa với nhà nước. Rốt cuộc là họ phải im lặng, để mặc cho đảng tung hoành, tiếp tục phạm sai lầm và tội ác. Hiện nay, theo ước tính của các chuyên gia, nợ nước ngoài của VN là từ 20 đến 30 tỷ đô-la. Nhà cầm quyền lúc nào cũng thấy bận rộn đi mượn tiền của các cơ quan tài chính quốc tế đem về thực hiện các dự án quốc nội mà ai cũng biết một phần không nhỏ chi phí cho các dự án này chạy vào túi cán bộ đảng viên. Và người nai lưng ra trả các món nợ khổng lồ này chính là nhân dân, thế hệ hôm nay hoặc mai ngày. Đó là chưa kể món nợ giang sơn (đất, biển, đảo) đã và đang phải trả cho Trung Quốc vì đã giúp xâm lược miền Nam, gây tai hại cho vận mệnh Tổ quốc, tiền đồ Dân tộc.
4- Con bài : Đầu năm 2005, Thiền sư Thích Nhất Hạnh ung dung dẫn hơn 100 đệ tử pháp môn Làng Mai từ Pháp trở về VN, rảo khắp cả nước để hoằng pháp. Ông đâu có hay rằng mình đã trở thành một con bài giúp giải cứu đảng và nhà cầm quyền CS khỏi danh sách CPC (năm 2006). Mới đây, nghe biết bộ ngoại giao Hoa Kỳ chuẩn bị danh sách CPC mới, trong đó VN phần chắc sẽ dính vào vì bao cuộc đàn áp tôn giáo khốc liệt từ sau hội nghị APEC 2006 tới nay, nhà cầm quyền CS lập tức cấp giấy phép hoạt động hôm 19-10-2009 cho Hội thánh Phúc âm Ngũ tuần, một hệ phái Tin lành hạng lớn tại Mỹ từ lâu bị xem là bất hợp pháp và thường xuyên bị đe dọa, tiếp đó là cho phép Liên Hội đồng Giám mục Á Châu được tổ chức hội thảo tại Việt Nam từ 22 đến 26-10 tại Sài Gòn, cuối cùng là để cho một linh mục, hôm 24-10, lên thành phố Sơn La cử hành mục vụ cho một cộng đoàn giáo dân mà từ bao năm nay vẫn bị đàn áp cách khốc liệt. Tất cả đã trở thành những con bài giúp cho VN lại thoát khỏi danh sách CPC do bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đưa ra hôm 26-10 mới rồi.
Với một nền pháp luật vô nguyên tắc của một chế độ vô nhân đạo, Cộng sản thường xuyên có trong tay những con bài để mặc cả với thế giới dân chủ đầy tiềm lực kinh tế, đó là các nhà đối kháng đang bị tống giam trong ngục. Họ bị bắt, bị kết án rồi được tha tù không bao giờ theo tiêu chuẩn công lý, nhưng theo những tính toán chính trị, nhằm giúp đảng CS thoát khỏi sự trừng phạt của thế giới, đạt được những hợp đồng béo bở hay thiết lập những mối bang giao có lợi.
Cư xử với nhân dân, đồng bào như con cái, con ở, con nợ và con bài từ mấy chục thập niên qua như thế, chính là vì Việt Cộng -cụ thể là Hồ Chí Minh và đảng Lao động- từng là con cờ của Quốc tế Cộng sản, bị Liên xô dùng để bành trướng chủ nghĩa độc hại và chế độ bạo tàn xuống Đông Nam Á. Nay thì lại vì Việt cộng đang là con ở của Trung Cộng, nhắm mắt làm theo lệnh ông chủ Bắc triều, bất chấp nỗi nhục của dân tộc, nỗi khổ của đồng bào, nỗi nguy của Tổ quốc, tất cả chỉ để mong ông chủ bảo vệ ghế ngồi của một tên nô lệ !
BAN BIÊN TẬP
Trở ngại trên đường phát triển của Việt Nam
30 October, 2009 at 7:22 am | In Diễn Đàn Dân Chủ | Leave a CommentLong S. Le – DCVOnline lược dịch
http://www.dcvonline.net/php/modules.php?name=News&file=article&sid=6839
Kết quả kinh tế của Việt Nam trong quý I năm nay cho thấy rủi ro ngắn hạn của Việt Nam đang giảm. Theo Viện Quản lý Kinh tế Trung ương, bộ phận nghiên cứu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tốc độ tăng trưởng GDP là 3,1% trong quý I ‒ độ tăng chậm nhất trong ít nhất 10 năm mới đây. Đây là một xuống cấp đáng so với 7,4% tăng trưởng ở quý đầu năm 2008. Không may cho Việt Nam, dấu hiệu tuột dốc đó có thể chỉ mới bắt đầu. Vì Việt Nam ngày nay đã phụ thuộc vào nền kinh tế toàn cầu hơn 10 năm trước đây. Việt Nạ, như thế, sẽ cũng dễ bị ảnh hưởng vì suy thoái kinh tế toàn cầu.
Trong năm qua mực xuất khẩu quốc gia chiếm tới 70% doanh thu cả nước. Tuy nhiên, thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam, Liên hiệp châu Âu, Mỹ và Nhật Bản, dự báo tỷ lệ tăng trưởng sẽ giảm đi 2% trong năm nay, trong trường hợp của Nhật Bản, ‒ 5%. Theo một số nhận định khác, nhập khẩu cho các thị trường này dự kiến sẽ tuột dốc 52%, và do đó, xuất khẩu của Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng nặng nề. Do đó, Economist Intelligence Unit (một công ty nghiên cứu và cố vấn kinh tế thuộc tạp chí The Economsit ‒ DCVOnline) vào giữa tháng Ba đã dự đoán một kịch bản ảm đạm: tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam sẽ chỉ còn 0,3% trong năm nay, giảm từ 6,2% trong năm 2008 và 8,48% trong năm 2007; nếu phục hồi được sẽ không sớm hơn giữa năm 2010 khi tốc độ tăng trưởng dự kiến sẽ lên đến 2%.
![]() |
| Shanghai Electric Nguồn: AFP |
Ngược lại, mặc dù IMF và Ngân hàng Thế giới mới đây đã tương ứng hạ cấp dự báo tăng trưởng của Việt Nam tới 4,7% và 5%, họ tin rằng chính phủ cắt lãi suất và giảm yêu cầu dự trữ ngân hàng để đối phó với độ nóng sốt năm ngoái đang giúp Việt Nam qua cơn khủng hoảng. Chắc chắn, khó có thể đánh giá thấp nền kinh tế của Việt Nam. Theo một báo cáo Nielson gần đây, “Việt Nam ‒ Cất cánh hoặc Lộn nhào trong năm 2009,” người tiêu dùng ở Việt Nam có vẻ tự tin hơn so với dân các nước khác, cho rằng lạm phát và thất nghiệp là kết quả của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu chứ nguyên nhân không phải là lòng tham.
Trong khi đó mức kiều hối (bằng 10% GDP trong năm 2007) từ 3,5 triệu người Việt Nam ở nước ngoài có khả năng được che đỡ vì Việt kiều phải giúp gia đình tại Việt Nam bất kể tình hình kinh tế. Hơn nữa, những Việt kiều có vốn nhiều thường trở thành những người đầu tư trong lúc thị trường xuống thấp, đặc biệt là nếu luật mới được đưa ra xem tất cả người Việt hải ngoại như nhau (ví dụ, Việt kiều ở Tây Âu so với những người ở Đông Âu).
Vì vậy có khả năng là Việt Nam trong ngắn hạn sẽ tránh một cuộc khủng hoảng, nhưng lãnh đạo Việt Nam sẽ rất khó khăn để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế 5% cho năm 2009. Nền kinh tế tương đối mạnh mẽ của Trung Quốc có thể không giúp đỡ nhiều cho Việt Nam ‒ hàng Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc vẫn còn nhỏ và thường được sử dụng như là đầu vào cho sản phẩm Trung Quốc xuất cảng sang phương Tây. Trong thực tế, Bộ Công nghiệp và Thương mại vào cuối tháng tư đã phải điều chỉnh mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu của Việt nam trong năm 2009 từ 13% đến 3%.
Tuy nhiên, lãnh đạo Việt Nam dường như đương tự dối mình về tai ương kinh tế của đất nước. Tháng Hai, 2009 thủ tướng (Nguyễn Tấn Dũng) cho biết Việt Nam sẽ có thể đạt được một mức tăng trưởng 6,5% cho năm nay. Một tháng sau, thủ tướng đã sửa đổi dự báo tăng trưởng lại còn 5%-5,5%. Nhưng văn phòng của ông (Nguyễn Tấn Dũng) vẫn lạc quan rằng lực lượng lao động của Việt Nam và thị trường trong nước “sẽ chắc chắn” đẩy đất nước trở lại mức tăng trưởng trước cuộc khủng hoảng toàn cầu, vào cuối năm nay.
Hơn nữa, thực tế là tỷ lệ cổ phần hóa của Việt Nam đang đảo ngược. Theo Bộ Tài chính, số lượng cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước giảm từ 724 trong 2.005 xuống 640 vào năm 2006, 150 trong năm 2007, và 73 trong năm 2008. Mặc dù bằng chứng cho thấy rằng hầu hết các công ty đã cổ phần hóa đã thu lợi nhuận và trả cổ tức cao sau khi cổ phần hóa, nhà nước sẽ ôm cứng các ngành công nghiệp chiến lược vô thời hạn. Đó là các ngành công nghệ viễn thông, ngân hàng và dịch vụ tài chính, và giáo dục và đào tạo nhằm mục đích bảo vệ “trật tự xã hội chủ nghĩa”.
![]() |
| Long S. Le Nguồn: conference.unavsa.org |
Vì vậy mà “khi các nhà lãnh đạo ở đây nói rằng họ muốn có một nền kinh tế thị trường (định hướng) xã hội chủ nghĩa, họ thực sự muốn như thế,” theo ông Jonathan Pincus, chuyên gia kinh tế (trường Harvard). Không có gì để ngạc nhiên, rõ ràng là quyền lợi của đảng hiện rõ trong chương trình kích thích thị trường của chính phủ. Trong số 1 tỷ đô la đầu tiên được phân phối, khoảng 75% là dành cho doanh nghiệp nhà nước, 20% cho các doanh nghiệp trung bình và nhỏ, và 5% cho các dự án xây nhà ở cho người thu nhập thấp. Chương trình ki’ch thích và công thức chia phần này bất chấp sự phí phạm tại doanh nghiệp nhà nước là nơi không tạo ra việc làm cho dân chúng. Chương trình kích thích thứ hai sắp tiến hành phần lớn giúp doanh nghiệp nhà nước và không có phương cách giải quyết nạn mất việc, có khả năng sẽ tăng gấp đôi từ 4,7% năm 2.008-8,2% cho năm nay (không kể các lĩnh vực không chính thức).
Bản cáo trạng ghi những gì đang làm Việt Nam trì trệ là chế độ chính trị và sự không có kiến thức (not know-how) đã được vạch rõ trong một báo cáo của Chương trình Harvard Việt Nam. Bản án ghi trong báo cáo được công bố trong tháng 1 năm 2008 cho rằng đối với Việt Nam “thành công là một sự lựa chọn”, nhưng trong thực tế nó “không khác với một huấn luyện viên bóng đá cho những lực sĩ yếu nhất của mình ra sân chơi trong trận vô địch.”
Khi những điều đó chưa thay đổi, Việt Nam sẽ tiếp tục trải nghiệm những trở ngại trên đường phát triển.
© DCVOnline
Blog at WordPress.com. | Theme: Pool by Borja Fernandez.
Entries and comments feeds.










